- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST Ngày 30/8/2019 Về việc “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Yến;
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Biện và ông Nguyễn Thanh M;
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại Toà án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 191/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 8 khu phố AB, phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 7 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Đ sau thời gian tìm hiểu, đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 10 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường AL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng hai năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường hay cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Nguyễn Văn Đ có hành vi bạo lực. Chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên muốn ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Huy D, sinh ngày 14/10/2018. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Nguyễn Văn Đ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về nợ chung và tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 11 tháng 7 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị M về thời gian chung sống, về tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Nay chị Nguyễn Thị M yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý. Chị Nguyễn Thị M đưa cháu Nguyễn Huy D về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ ngày 07/7/2019 cho đến nay.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Huy D, sinh ngày 14/10/2018. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, anh không yêu cầu chị Nguyễn Thị M cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Nguyễn Văn Đ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ không đồng ý ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do chị Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Anh Nguyễn Văn Đ đăng ký hộ khẩu thường trú địa chỉ tổ 8 khu phố AB, phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Về sự tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước: Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã BL không tham gia phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án không có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 10 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn Đ là hợp pháp.
Chị Nguyễn Thị M trình bày, vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống thường hay cãi nhau, anh Nguyễn Văn Đ có hành vi bạo lực với chị, chị đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ ngày 07/7/2019 cho đến nay. Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Đ thừa nhận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống và có lần anh bạo lực với chị Nguyễn Thị M nhưng có nguyên nhân vì con đang ngủ mà chị Nguyễn Thị M gọi con dậy để gửi sang nhà bà ngoại để chị Nguyễn Thị M đi làm vào lúc 5 giờ 30 phút sáng. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị M.
. Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ đều có yêu cầu được trực tiếp con chung tên Nguyễn Huy D, sinh ngày 14/10/2018 sau khi ly hôn. Tuy nhiên việc giao con chung cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cần xem xét đến độ tuổi của con, để ổn định tâm lý cho con, cần giao con chung cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật là con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nên yêu cầu của chị Nguyễn Thị M được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Huy D, sinh ngày 14/10/2018 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004566 ngày 04/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BP; - VKSND thị xã Bình Long; - Chi cục THADS thị xã Bình Long; - UBND phường AL; - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Yến |