- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lương Thế B. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lương Thế B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 461 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST Ngày 17 /6/2019 V/v “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bàng Thị Hồng - Bà Bùi Thị Kim Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Xuân Chiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Phạm Bích Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2019 tại Hội trường xét xử số 1 - Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985;
Nghề nghiệp: Công nhân.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, khu 8B, phường QH, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt tại phiên toà
- Bị đơn: Anh Lương Thế B, sinh năm 1982;
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Tổ 4, khu 8B, phường QH, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (đã bị Tòa án tuyên bố mất tích).
NỘI DUNG VỤ ÁN
[ Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 25/12/2018, đơn khởi kiện xin ly hôn bổ sung ngày 15/01/2019 , trong lời khai tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị H và anh Lương Thế B kết hôn với nhau vào năm 2007, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng bố mẹ vợ ở phường CP, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 2009 thì vợ chồng mua nhà đất ở Tổ 4, khu 8B, phường QH, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh để sinh sống. Đến khoảng tháng 02 năm 2014 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B chơi bời, cờ bạc, lô đề, không quan tâm đến gia đình, vợ con và đã bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay. Chị H đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của anh B. Chị H đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tuyên bố anh Lương Thế B mất tích và đã được Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2018/QĐST-DS ngày 16/11/2018. Để ổn định cuộc sống, chị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả giải quyết cho chị H ly hôn với anh Lương Thế B theo quy định của pháp luật.
Quá trình chung sống của vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Lương Thế B có một con chung là Lương Trung Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2008. Khi ly hôn, chị H xin được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2018/QĐST-DS ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc xin ly hôn với anh Lương Thế B. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lương Thế B là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, được Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2007. Quá trình chung sống do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B chơi bời, cờ bạc, lô đề, không quan tâm đến gia đình, vợ con và đã bỏ nhà đi biệt tích, chị H đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm và thông tin tìm kiếm anh Lương Thế B trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tin tức gì của anh Lương Thế B. Chị Hồng đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh tuyên bố anh Lương Thế B mất tích. Ngày 16/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố C đã tuyên bố anh Lương Thế B mất tích. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Lương Thế B để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lương Thế B có một con chung là Lương Trung Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2008. Khi ly hôn, chị H xin được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về công nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 2 Điều Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, khoản 1 Điều 227; Điều 461 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lương Thế B. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lương Thế B.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lương Trung Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2008 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về công nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004383 ngày 24/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp tuật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tp. C; - Chi cục THADS tp. C; - Các đương sự; - UBND phường CP; - Lưu hồ sơ-Vp. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Văn Trọng |