- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu ly hôn của Chị Yến đối với anh Đạt"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh Hoàng Bá Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17 /2019/ HNGĐ-ST Ngày: 25- 4 -2019 V/v “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn". |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Thắng và bà Nguyễn Thị Đào
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hạnh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01 /2019/HNGĐ - ST ngày 02 tháng 01 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 03 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 07 ngày 10 tháng 4 năm 2019 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1992 Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Anh Hoàng Bá Đ , sinh năm 1992 Đại chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Vũ Thị Y trình bày giữa chị và bị đơn là anh Hoàng Bá Đ đăng ký kết hôn ngày 18 tháng 12 năm 2017 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện.
Quá trình vợ chồng chung sống với nhau đoàn tụ hạnh phúc được khoảng 4 tháng, thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, thiếu sự quan tâm lẫn nhau, mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng anh, chị đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2018 cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Bá Đ.
Về con chung: Vợ chồng anh, chị có 01 con chung với nhau, tên cháu là Hoàng Bá B. L, sinh ngày 04/9/2018. Hiện nay cháu đang ở cùng với chị Y. Ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi con. Nghề nghiệp của chị là kinh doanh, thu nhập bình quân hằng tháng là 20.000.000đ, chị xét thấy đủ điều kiện về thời gian và kinh tế để nuôi con cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản và phần nợ: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn là anh Hoàng Bá Đ trình bày anh và chị Y đăng ký kết hôn như chị Y trình bày là hoàn toàn đúng. Anh Đ cho rằng, vợ chồng anh, chị vẫn hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, cho tới ngày 26/9/2018 chị Y xin bế con về bên ngoại chơi thì thấy tình cảm của chị Y có sự đổi khác, chị Y không về sống cùng anh nữa. Nay chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh không đồng ý, anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung.
Về con chung: Anh Đ trình bầy vợ, chồng anh chị có một con chung như chị Y trình bày là hoàn toàn đúng. Nếu ly hôn anh đồng ý giao cháu L cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y.
Về tài sản và phần nợ: Anh Đ không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân gia đình, xử cho chị Vũ Thị Y lý hôn anh Hoàng Bá Đ. Về con chung đề nghị áp dụng Điều 81 luật hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận nuôi con giữa chị Y và anh Đ. Về tài sản anh ,chị không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Chị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
.Về tố tụng: Anh Hoàng Bá Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Tòa án để tham tham gia phiên tòa, mặc dù không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan nào, nhưng anh Đ không đến Tòa án, không có lý do; Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
.Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Y và anh Hoàng Bá Đ đăng ký kết hôn ngày 18 tháng 12 năm 2008 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện, như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống với nhau vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc được khoảng 04 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thiếu sự quan tâm lẫn nhau, mâu thuẫn mẹ chồng với nàng dâu, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Y tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Anh Đ mong muốn được đoàn tụ.
Xét mâu thuẫn vợ chồng thì thấy tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Hoàng Bá Đ cho rằng tình trạng hôn nhân chưa đến mức trầm trọng, anh và còn thương yêu chị Y, nhưng lại không có biện pháp để gắn kết tình cảm vợ chồng để mặc cho rạn nứt. Vì vậy xét yêu cầu xin ly hôn của chị Y là phù hợp. Căn cứ vào điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Y.
. Về con chung: Vợ chồng anh, chị có một con chung với nhau. Hiện nay cháu đang ở cùng chị Y. Ly hôn chị Y và anh Đ đều thỏa thuận giao con cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh Đ không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị Y. Xét việc thỏa thuận của vợ chồng anh, chị phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Vì vậy Tòa án chấp nhận sự thỏa thuận nuôi con chung giữa chị Y và anh Đ. [4].Về tài sản: Vợ chồng anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét. [5]. Về án phí: Chị Vũ Thị Y phải chịu án phí theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 điều 147, Điều 228; Điều 271,khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1, tiểu mục 1, mục II phần A danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh Hoàng Bá Đ.
Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận nuôi con giữa chị Vũ Thị Y và anh Hoàng Bá Đ. Tiếp tục giao cháu Hoàng Bá B. L cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y.
Anh Đ ® îc quyÒn thăm nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị Y và các thành viên trong gia đình kh«ng ® îc ng¨n cÊm, c¶n trë. NÕu trong qu¸ tr×nh nu«i con, chị Y kh«ng ch¨m sãc chu ®¸o ¶nh h ëng ®Õn sự ph¸t triÓn søc kháe, häc tËp, sinh ho¹t cña các con, thì anh Đ lại cã quyÒn khëi kiÖn ®Õn Tßa ¸n yªu cÇu thay ®æi nu«i con chung.
Về tài sản: Chị Vũ Thị Y và anh Hoàng Bá Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị Vũ Thị Y phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo biên lai số AA/2017/0005327 ngày 24 tháng 12 năm 2018 nay trừ vào án phí ly hôn, chị Y đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố cho chị Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Thắng Nguyễn Thị Đào
Lê Thị Thủy Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKS Triệu Sơn
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự
- UBND xã T
- Thi hành án
- Giám đốc án
- Lưu hồ sơ
Lê Thị Thủy
Lê Thị Thủy y
| Nơi nhận: - VKS Thiệu Hoá - Các đương sự -UBND xã Yên Thái - Thi hành án - Giám đốc án - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA Lê Đình Thông |