vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình A.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Lê Đình A được ly hôn với bà Hoàng Thị T. Các vấn đề khác các đương sự không yêu cầu tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18/6/2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Khuyến

Ông Tạ Văn Khách

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bùi Quang Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 150/2019/TLST - HNGĐ ngày 14/5/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 03/6/2019;

Nguyên đơn: Ông Lê Đình A, sinh năm 1981; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1976; (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 5, xã Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ông Lê Đình A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đình A và ông Hoàng Thị T tự do tìm hiểu, tự nguyện yêu thương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P (nay là huyện R), tỉnh Bình Phước vào ngày 12/3/2004. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian đầu.

Đến năm 2007 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không có sự quan tâm và lo lắng cho nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả lẫn nhau, nên cuối năm 2007 ông A đã bỏ về quê là huyện Q, tỉnh Nghệ An làm ăn sinh sống và đã ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Vì vậy, nay ông A làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu được ly hôn với bà T.

- Về con chung: Ông A và bà T có với nhau một con chung tên là Lê Thị Ánh H, sinh ngày 16/01/2005. Khi ly hôn, ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Khi ly hôn, ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn, ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Hoàng Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T thống nhất với lời trình bày của ông Lê Đình A về quan hệ hôn nhân, thời gian chung sống và đăng ký kết hôn

Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hay cãi vả lần nhau nên đến cuối năm 2007 thì ông A bỏ nhà đi và ông A, bà T đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Nếu như ông A không muốn hàn gắn để trở về cùng chung sống và đoàn tụ thì trước yêu cầu ly hôn của ông A, bà T đồng ý.

- Về con chung: Bà T và ông A có với nhau một con chung tên là Lê Thị Ánh H, sinh ngày 16/01/2005. Khi ly hôn, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Vê cấp dưỡng nuôi con chung: Khi ly hôn, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên cho nguyên đơn ông Lê Đình A được ly hôn với bị đơn bà Hoàng Thị T.

Các vấn đề khác các đương sự không yêu cầu nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Đây là vụ án ly hôn do nguyên đơn ông A làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn bà T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, do bị đơn có nơi cư trú tại xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Riềng. Nguyên đơn ông Lê Đình A có đơn xin giải quyết vằng mặt. Do đó Tòa căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đình A và bà Hoàng Thị T tự do tìm hiểu, tự nguyện yêu thương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Tân, huyện Phước Long (nay là huyện Phú Riềng), tỉnh Bình Phước vào ngày 12/3/2004. Việc kết hôn là đúng quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vã nhau, cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn dẫn đến đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, ông A đã bỏ về quê là huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An làm ăn sinh sống từ năm 2007 cho đến nay, hiện nay không ai còn quan tâm đến ai nữa.

Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng làm cho tình trạng hôn nhân trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông A đối với bị đơn bà T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống có 01 người con chung là cháu Lê Thị Ánh H, sinh ngày 16/01/2005. Khi ly hôn ông A, bà T không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình A.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Lê Đình A được ly hôn với bà Hoàng Thị T.

Các vấn đề khác các đương sự không yêu cầu tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Lê Đình A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 027039 ngày 11/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ