vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lê Thị C.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị C được ly hôn anh Lê Huy T. Về con chung: Chị Lê Thị C và anh Lê Huy T có 02 con chung là Lê Thị H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị C xin ly hon anh Lê Huy T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lê Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ- ST
Ngày: 13 - 11 - 2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ly

Bà Lê Thị Thủy

- Thư ký phiên toà:

Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Quế - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2019/TLST - HNGĐ ngày 13/9/2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 14/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị C - sinh năm 1984. ( Có mặt )

Địa chỉ: xã M, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Lê Huy T

- sinh năm 1979. ( Vắng mặt ) Địa chỉ: xã M, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/8/2019, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị C và anh Lê Huy T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa ngày 08/3/2002. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng tH xuyên bất đồng về quan điểm sống, mỗi người một tính cách, một lối sống riêng, tính tình không hợp nên tH xuyên xảy ra va chạm. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Lê Thị C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Huy T.

- Về con C: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị H - sinh ngày 08/4/2003 và Lê Huy H1 - sinh ngày 20/4/2012. Nguyện vọng của chị C khi ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Lê Thị H, anh Lê Huy T nuôi cháu Lê Huy H1 và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 20/9/2019, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Huy T trình bày:

- Về hôn nhân: Thời gian địa điểm kết hôn cũng như đăng ký kết hôn giữa anh và chị Lê Thị C như chị C trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, mỗi người một tính cách. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng không ở với nhau, không quan tâm đến nhau. Nay chị C làm đơn xin ly hôn, anh T xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, các con đang còn nhỏ nên chưa muốn ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con C là Lê Thị H - sinh ngày 08/4/2003 và Lê Huy H1 - sinh ngày 20/4/2012.

Nguyện vọng của anh T là không muốn ly hôn, nhưng nếu phải ly hôn anh có nguyện được nuôi cháu Lê Huy H1, chị C nuôi cháu Lê Thị H và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về vay, nợ: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn.

* Đại diện VKS phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 3; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận chị Lê Thị C được ly hôn anh Lê Huy T. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Thị H, anh Lê Huy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Huy H1 và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị C phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lê Thị C khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Lê Huy T và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu xin ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn thụ lý vụ án “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Bị đơn anh Lê Huy T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Như vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt anh Lê Huy T là đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng Dân sự, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị C và anh Lê Huy T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa ngày 08/3/2002 là hôn nhân hợp pháp. Chị C và anh T đều thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Anh Lê Huy T không đồng ý ly hôn, nhưng anh T lại không tìm ra các biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng, dẫn đến việc chị C vẫn không muốn quay về đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng giữa chị C và anh T không thể hàn gắn được nữa nên chấp nhận yêu cầu của chị C, xử cho chị C được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị H - sinh ngày 08/4/2003 và Lê Huy H1 - sinh ngày 20/4/2012.

Khi ly hôn, chị C và anh T đều có nguyện vọng, giao cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Thị H, anh Lê Huy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Huy 1H và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hơn nữa cháu Lê Thị H có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Lê Huy H1 có nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy HĐXX giao cháu Lê Thị H cho chị C nuôi và giao cháu Lê Huy H1 cho cho anh Lê Huy T nuôi, không phải cấp dưỡng nuôi con C là phù hợp.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 3; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lê Thị C.

Xử:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị C được ly hôn anh Lê Huy T.

- Về con chung: Chị Lê Thị C và anh Lê Huy T có 02 con chung là Lê Thị H

- sinh ngày 08/4/2003 và Lê Huy H - sinh ngày 20/4/2012.

Giao cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Lê Thị H.

Giao cho anh Lê Huy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Lê Huy H.

Chị Lê Thị C và anh Lê Huy T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lê Thị C và anh Lê Huy T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị C đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0006556 ngày 12/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Sơn. Chị Lê Thị C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt chị Lê Thị C, vắng mặt anh Lê Huy T. Chị Lê Thị C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Huy T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết vắng mặt hợp lệ.

Cỡ chữ