vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy B về việc “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Giao con chung Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 17/8/2013 cho anh Nguyễn Duy B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Chị Mai Thị Thu T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "anh Nguyễn Duy B xin thay đổi nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy B về việc “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
Tỉnh Thái B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ- ST
Ngày: 28/6/2019
V/v:“Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Ngoãn.

2. Bà Tạ Thị Minh Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2019/TLST- HNGĐ ngày 02/4/2019 về việc: “ Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXX- ST ngày 30/5/2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy B, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Chị Mai Thị Thu T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn 1, xã V, huyện H, Thái Bình.

( Anh B, chị T vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn yêu cầu thay đổi nuôi con ngày 21/3/2019, bản tự khai ngày 02/4/2019 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/4/2019, nguyên đơn là anh Nguyễn Duy B trình bày: Năm 2013 anh kết hôn với chị Mai Thị Thu T có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện H, tỉnh Thái Bình, đến năm 2017 do mâu thuẫn vợ chồng nên chị T đã làm đơn xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Ngày 08/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đã giải quyết cho chị T và anh được ly hôn; về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Tr , sinh ngày 17/8/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên từ khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cho đến nay thì con chung của anh và chị T là Nguyễn Ngọc Tr do anh và bố mẹ đẻ anh trực tiếp nuôi dưỡng. Để tạo điều kiện cho con Nguyễn Ngọc Tr được ổn định việc học hành, anh B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giao con chung Nguyễn Ngọc Tr cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh B không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Do điều kiện công việc nên anh B xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Tại bản tự khai ngày 08/4/2019, đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/4/2019 bị đơn chị Mai Thị Thu T trình bày: Ngày 08/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đã xét xử cho chị được ly hôn anh B; về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Tr , sinh ngày 17/8/2013 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên từ thời gian đó cho đến nay con chung Nguyễn Ngọc Tr vẫn đang ở với anh B. Nay anh B có đơn đề nghị thay đổi nuôi con, nguyện vọng của chị vẫn muốn được nuôi con chung nhưng để tạo điều kiện cho việc sinh hoạt và học tập của con nên chị cũng đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Tr cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Do điều kiện công việc nên chị T xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung Nguyễn Ngọc Tr , sinh ngày 17/8/2013 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; về án phí: Anh Nguyễn Duy B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa cũng như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là chị Mai Thị Thu T có hộ khẩu thường trú tại xã Vân Trường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “ tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung:

Về yêu cầu xin thay đổi nuôi con của anh Nguyễn Duy B: Xét thấy, tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2017/HNGĐ-ST ngày 08/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã giải quyết cho chị Mai Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Duy B; Về con chung giao con chung Nguyễn Ngọc Tr , sinh ngày 17/8/2013 cho chị Mai Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh B. Tuy nhiên, từ khi Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh B cho đến nay thì con chung của chị T và anh B là cháu Nguyễn Ngọc Tr do anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giao dục. Cháu Tr hiện tại đang học lớp 5 tuổi Trường Mầm non xã A. Vì vậy, để tạo điều kiện cho việc học tập và sinh hoạt ổn định của cháu Nguyễn Ngọc Tr nên cần áp dụng điều 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh B về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao con chung Nguyễn Ngọc Tr cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh B không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh nên việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Anh Nguyễn Duy B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Duy B và chị Mai Thị Thu T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy B về việc “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Giao con chung Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 17/8/2013 cho anh Nguyễn Duy B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Chị Mai Thị Thu T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

2/ Về án phí: Anh Nguyễn Duy B phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) anh B đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0009010 ngày 02/4/2019.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ