vanban.org

Bản án 17/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 29/05/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thi ̣ Bich Ng.

́ sơ thẩm. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bich Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Trần Thị Bich Ng va VTD"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thi ̣ Bich Ng.
  • Căn cứ chính? Luật Du lịch; Điều 14 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 17/2019/DS-PT
Ngày: 29 - 5 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Hữu Viên

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thi ̣ Kim Hải

Ông Phạm Đình Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 và 29tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số21/2019/TLPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2018/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 20/2019/QĐ-PT ngày20 tháng 3 năm 2019, Quyết đi ̣nh hoan phiên tõ

̀a số 18A/2019/QĐ-PT ngày 11/4/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích Ng, sinh năm 1979; cư trú tại: Phường Lộc Thọ, thành phố A, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Bích Ng: Ông Trần Đức Ph, Luật sư Công ty Luật TNHH HV thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Công ty TNHH VTD

Địa chỉ trụ sở: Phường B, thành phố A, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Kiều H, sinh năm 1984 là Giám đốc pháp chế; nơi cư trú: Xã C, huyện D, tỉnh Hưng Yên (Văn bản ủy quyền ngày 20/02/2019). Có mặt tại phiên tòa.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Phan Thùy A1, Luật sư Công ty Luật TNHH Đ thuộc Đoàn Luật sư Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đức Ph trình bày:

Vào lúc 18 giờ ngày 21/12/2016, bà Trần Thi ̣ Bich Ng được mời tham gia

́ hội thảo do Công ty TNHH VTD (go ̣i tắt là Công ty VTD) tổ chức. Bà Ng được nhân viên của Công ty là ông Trần Vũ L tư vấn, giới thiệu về Dự án E. Theo đó, khách hàng khi sở hữu kỳ nghỉ của E vớ i giá 364.640.000 đồng, là căn hô ̣ loa ̣i A, tuần 10, có thể sử du ̣ng căn hô ̣ cao cấp 5 sao cùng vớ i 72 tiê ̣n ich của Công ty

́ ta ̣i khu nghỉ dưỡng, trừ chi phi đi la ̣i, ăn uống, nhà hàng, cà phê...Bà Ng đa ̃

́ chuyển cho Công ty VTD ta ̣i buổi hô ̣i thảo 1.000.000 đồng, sau đó tiếp tu ̣c chuyển qua thẻ ngày 22/12/2016 là 50.000.000 đồng và ngày 23/12/2016 là 58.392.000 đồng. Tổng số tiền mà bà Ng chuyển cho Công ty VTD là 109.392.000 đồng. Theo yêu cầu của nhân viên Công ty, bà Ng đa kỹ ́ vào Hợp đồng PBRC-N-050224 do Công ty VTD soa ̣n sẵn và giao ngay lúc đó, trong đó hợp đồng chưa được hoàn thiê ̣n nô ̣i dung, phia Công ty nói là se cõ ́ ngườ i của

́

Công ty ký và đóng dấu hợp đồng trong ha ̣n 15 ngày. Sau đó, nhân viên Công ty VTD gử i cho bà Ng 01 thư có tiêu đề “Chào mừ ng quý chủ sở hữu đến vớ i E Resort A” do ông HP – Tổng giám đốc ký. Sau đó, bà Ng yêu cầu Công ty VTD trả la ̣i tiền và yêu cầu hủy hợp đồng này, vi các lý do: (1) các thông tin mà Công

̀

ty VTD đưa ra không chinh xác nhằm lừ a dối khách hàng về tư cách pháp nhân

́ của Công ty, Công ty cho rằng Công ty có 100% vốn nướ c ngoài do ông tỷ phú ID làm chủ sở hữu, tổng mứ c đầu tư của dự án E là 300 triê ̣u USD; (2) hợp đồng mà Công ty đưa ra là hợp đồng theo mẫu soa ̣n sẵn nhưng không cho khách hàng thờ i gian nghiên cứ u trướ c hợp đồng trướ c khi ký kết; (3) hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ có những quy đi ̣nh trái vớ i quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam như quy đi ̣nh về đă ̣t co ̣c. Tuy nhiên, Công ty VTD từ chối trả la ̣i tiền. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết 03 yêu cầu sau:

- Thứ nhất: Chấm dứ t viê ̣c tiếp tu ̣c thực hiê ̣n Bản chinh sách đă ̣c biê ̣t ta ̣i

́ sự kiê ̣n, Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ.

- Thứ hai: Tuyên bố Bản chinh sách đă ̣c biê ̣t ta ̣i sự kiê ̣n, Hợp đồng sở hữu

́

kỳ nghỉ vô hiê ̣u.

- Thứ ba: Buô ̣c Công ty VTD trả la ̣i 109.329.000 đồng.

Đại diện theo ủy quyền của bi ̣ đơn Công ty TNHH VTD (gọi tắ t là Công ty VTD) bà Phạm Thị Kiều H trình bày:

Công ty TNHH VTD không đồng ý với cả 03 yêu cầu của nguyên đơn, vì các lý do sau:

(1) Tại buổi sự kiện Công ty giới thiệu về mô hình sở hữu kỳ nghỉ thông qua hình ảnh bằng việc xem video giới thiệu và thông tin do người dẫn chương trình của sự kiện, nhân viên Công ty trực tiếp trao đổi, giới thiệu về lịch sử phát triển của mô hình này trên thế giới, về đặc điểm của mô hình và các lợi ích khi khách mời sử dụng mô hình nghỉ dưỡng này, về dự án của Công ty và mô hình công ty đang phát triển ở Việt Nam, ghi nhận những chia sẻ và trả lời thắc mắc của các khách mời nói chung, trong đó có nguyên đơn. Lý do Nguyên đơn đưa ra để chấm dứt hợp đồng vì Công ty cung cấp thông tin không chính xác là không đúng và không đủ điều kiện để Công ty chấm dứt hợp đồng.

(2) Công ty VTD được UBND tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 371022000419 ngày 05/02/2013, thay đổi lần thứ ba ngày 27/01/2015 để đầu tư, thực hiện Dự án khu nghỉ dưỡng cao cấp có tên là “E” (gọi tắt là Khu nghỉ dưỡng hoặc Dự án E) tại các lô đất số D7a2, TT4, X6 thuộc Khu Du lịch Bắc Bán đảo K, huyện M, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Công ty đã và đang triển khai mô hình chia sẻ quyền nghỉ dưỡng (Quyền sở hữu kỳ nghỉ), theo mô hình này một người được sử dụng một quyền nghỉ dưỡng hàng năm tại một địa điểm trong một khoảng thời gian nhất định (Tuần nghỉ dưỡng) cho việc sử dụng quyền nghỉ dưỡng đó. Để xác lập quyền nghỉ dưỡng, giữa khách nghỉ dưỡng và doanh nghiệp ký kết một hợp đồng gọi là “Hợp đồng Sở hữu kỳ nghỉ”, để ấn định thời gian và thời điểm nhất định dành cho việc sử dụng quyền nghỉ dưỡng của khách nghỉ dưỡng. Thông qua hợp đồng này, doanh nghiệp bán quyền nghỉ dưỡng và khách nghỉ dưỡng mua quyền nghỉ dưỡng. Khoản tiền mà khách nghỉ dưỡng đã trả để mua quyền nghỉ dưỡng là cơ sở để khách nghỉ dưỡng được hưởng quyền nghỉ dưỡng hàng năm đó, đồng thời hàng năm phải trả một khoản tiền bảo trì. Thời hạn sử dụng quyền nghỉ dưỡng là kéo dài suốt thời hạn hoạt động của dự án nghỉ dưỡng (đến năm 2054).

Vốn điều lệ của Công ty VTD trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là 105 tỷ đồng, đây là vốn góp theo cam kết của nhà đầu tư vào Công ty vào dự án phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam. Vốn đầu tư của dự án là 300 triệu USD hoặc có thể cao hơn, là giá trị ước tính vốn đầu tư của toàn bộ dự án, bao gồm nhưng không giới hạn: tiền thuê đất, chi phí đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành dự án, chi phí quản lý, văn phòng...Công ty xác nhận là công ty có 02 thành viên góp vốn là Công ty P sở hữu 95% vốn điều lệ và ông Dương Tuấn S sở hữu 5% vốn điều lệ, là công ty có vốn đầu tư nước ngoài và cổ đông nước ngoài nắm cổ phần chi phối. Đối với thông tin ông tỷ phú ID thì Công ty VTD và Công ty P là công ty được sở hữu và kiểm soát bởi ông ID và các doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu, kiểm soát của ông ID. Về nội dung nguyên đơn cho rằng công ty lừa dối khách hàng, công ty khẳng định là không lừa dối khách hàng.

(3) Để giới thiệu mô hình sở hữu kỳ nghỉ mà Công ty đang kinh doanh, Công ty đã mời một số khách hàng, trong đó có Nguyên đơn, tham dự buổi giới thiệu về mô hình này do Công ty tổ chức. Khi được mời, nhân viên của Công ty đã nói rõ về nội dung của buổi sự kiện: thời gian, cách thức tham gia sự kiện, các quà tặng đi kèm... sau khi được thông báo về thông tin sự kiện, khách mời có quyền quyết định tham gia hoặc không và Nguyên đơn đã đồng ý tham gia sự kiện. Nhân viên Công ty đã tư vấn cho khách hàng và dành thời gian cho khách hàng nghiên cứu, giải đáp thắc mắc của khách hàng nếu có, do đó việc khách hàng ký kết hợp đồng với Công ty là hoàn toàn hợp pháp, tự nguyện giữa hai bên.

(4) Đối với nội dung liên quan đến tiền đặt cọc thì Công ty khẳng định các nội dung về tiền đặt cọc và sử dụng tiền đặt cọc trong hợp đồng đã ký là phù hợp với quy định của pháp luật và Công ty có quyền sử dụng số tiền đặt cọc theo thỏa thuận của hai bên, trong hợp đồng cũng đã ghi rõ về số tiền đặt cọc cũng như quyền sử dụng của Công ty.

Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ gồm có 02 phần: phần hợp đồng chính, được soạn sẵn có đầy đủ thông tin cơ bản và phần phụ lục hợp đồng để trống có liên quan đến thông tin khách hàng, thông tin về giá bán và tiến độ thanh toán, các thông tin này đã được chốt tại buổi hội thảo và được nhân viên Công ty điền vào theo thông tin trong phiếu đặt chỗ (hay là Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện) mà khách hàng cung cấp. Sau khi khách hàng ký kết hợp đồng thì gửi về Công ty để người có thẩm quyền của Công ty ký, đóng dấu và gửi lại cho khách hàng trong thời hạn khoảng 02 tuần, có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn vì nhiều lý do. Trong thời gian này, hợp đồng sẽ chuyển cho Công ty để hoàn thiện hợp đồng, trình cho người có thẩm quyền ký, scan cho bộ phận kế toán, chăm sóc khách hàng và gửi lại cho khách hàng.

Sau khi giới thiệu tổng quát, đối với những khách mời có quan tâm và muốn tìm hiểu thêm như trường hợp của Nguyên đơn, nhân viên của Công ty giới thiệu chi tiết về sản phẩm, dịch vụ cũng như về hợp đồng và chính sách ưu đãi (nếu có). Khách hàng nếu đồng ý sẽ ký vào xác nhận đặt chỗ, hợp đồng sau khi nghiên cứu (nếu có nhu cầu). Trường hợp trong quá trình tìm hiểu khách hàng có thắc mắc về hợp đồng hay về các quyền lợi, nghĩa vụ, chính sách liên quan, nhân viên Công ty luôn sẵn sàng giải đáp. Khách hàng chỉ ký giấy xác nhận đặt chỗ và hợp đồng khi đã hiểu rõ các văn bản này và có nhu cầu ký kết hợp đồng với Công ty. Đối với trường hợp của Nguyên đơn, Nguyên đơn đã đồng ý mua quyền sở hữu kỳ nghỉ của Công ty – tuần thứ 10 theo Hợp đồng số PBRC-N-050224, căn hộ nghỉ dưỡng loại A. Nguyên đơn đã thanh toán một phần khoản tiền đặt cọc là 109.392.000 đồng, Công ty đã thực hiện xuất hóa đơn đầy đủ các khoản thanh toán này.

Phía Công ty cũng đã nhiều lần giải thích với khách hàng qua email, điện thoại, gặp trực tiếp và bằng văn bản. Công ty cũng đã yêu cầu khách hàng tuân thủ, tôn trọng hợp đồng đã ký. Do đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp, Nguyên đơn cần tuân thủ các nghĩa vụ tại hợp đồng đã ký kết

Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2018/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố A, quyết định:

Áp dụng các Điều 122, 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 328, 401, 513 Bộ luật Dân sự; Điều 14, 42, 43 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Điều 74 Luâ ̣t Thương ma ̣i; Điều 17 Luật Trọng tài thương mại; Mục 4 Chương IV Luật Du lịch; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 26, khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bích Ng về việc yêu cầu chấm dứt thực hiện Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 ngày 21/12/2016 được giao kết giữa bà Trần Thị Bích Ng với Công ty TNHH VTD;yêu cầu tuyên bố Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 ngày 21/12/2016 được giao kết giữa bà Trần Thị Bích Ng với Công ty TNHH VTD vô hiệu; yêu cầu Công ty TNHH VTD trả lại cho bà Trần Thị Bích Ng số tiền là 109.392.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo qui định.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, bà Trần Thị Bích Ng có đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn bà Trần Thị Bích Ng giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Bà Trần Thi ̣ Bich Ng bi ̣ lừ a dối, bi ̣ nhầm lẫn khi ký kết hợp đồng; nô ̣i dung hợp đồng vi ́ pha ̣m điều cấm của pháp luâ ̣t; dự án bi ̣ châ ̣m tiến đô ̣ đưa vào hoa ̣t đô ̣ng. Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

- Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp cho bi ̣ đơn và đa ̣i diê ̣n theo ủy

́

quyền của bi ̣ đơn cho rằng cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Trần Thi ̣ Bich Ng là có căn cứ , đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

́

- Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa phúc thẩm; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và tài liệu, chứng cứ của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhâ ̣n kháng cáo của bà Trần Thi ̣ Bich Ng, giữ

́ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng

Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 là hợp đồng theo mẫu do nhà cung cấp di ̣ch vu ̣ đưa ra, có soa ̣n sẵn quy đi ̣nh thỏa thuâ ̣n cho ̣n cơ quan và phương thứ c giải quyết tranh chấp “...các Bên có thể thỏa thuâ ̣n trong quá trinh

̀ tiến hành thương lượng và hòa giải, se đượ̃

c giải quyết bằng Trung tâm Tro ̣ng tài Quốc tế Singgapore (“SIAC”) theo các quy tắc tro ̣ng tài của SIAC có hiê ̣u lực ta ̣i thờ i điểm giải quyết tranh chấp (khoản 12.3 Điều 12)”.

Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 17 Luâ ̣t Tro ̣ng tài thương ma ̣i; Hướ ng dẫn ta ̣i khoản 5 Điều 4 Nghi ̣ quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/4/2014 của Hô ̣i đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy đi ̣nh về thỏa thuâ ̣n tro ̣ng tài không thể thực hiê ̣n được, khi: “Nhà cung cấp hà ng hóa, di ̣ch vụ và ngườ i tiêu dù ng có điều khoản về thỏa thuận trọng tà i được ghi nhận trong cá c điều khoản chung về cung cấp hà ng hóa, di ̣ch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy đi ̣nh tại Điều 17 Luật Trọng tà i thương mại nhưng khi phá t sinh tranh chấp, ngườ i tiêu dù ng không đồng ý lựa chọn Trọng tà i giải quyết tranh chấp”.

Nguyên đơn là ngườ i tiêu dùng không đồng ý lựa cho ̣n tro ̣ng tài giải quyết tranh chấp và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố A giải quyết tranh chấp, và Tòa án nhân dân thành phố A thu ̣ lý, giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền.

Về nội dung vụ á n

Công ty TNHH Khu du li ̣ch VTD (Công ty VTD) được UBND tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứ ng nhâ ̣n đầu tư số 371022000419 ngày 05/02/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 27/01/2015; Giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký kinh doanh doanh nghiê ̣p ngày 05/02/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 15/10/2018 để đầu tư thực hiê ̣n dự án Khu nghỉ dưỡng cao cấp E, ta ̣i lô đất D7a2, TT4, X6 thuô ̣c Khu du li ̣ch Bắc bán đảo K, M, Khánh Hòa. Theo đó, Công ty VTD có 02 thành viên góp vốn là ông Dương Tuấn S và Công ty P. Công ty VTD được phép kinh doanh di ̣ch vu ̣ lưu trú.

Bà Trần Thi ̣ Bich Ng vớ i Công ty VTD (do ông HP, Tổng giám đốc

́ làm đa ̣i diê ̣n) ký kết Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224, có nô ̣i dung: Bà Trần Thi ̣ Bich Ng đăng ký mua loa ̣i căn hô ̣ nghỉ dưỡng A, tuần nghỉ dưỡng

́ thứ 10 trong mỗi năm tinh từ năm bắt đầu đến khi hết thờ i ha ̣n Dự án ta ̣i Khu Du

́ li ̣ch Bắc bán đảo K, huyê ̣n M, tinh Khả

́nh Hòa (Khu nghỉ dưỡng E). Khoản thanh toán phải trả khi Công ty xác đi ̣nh ngày khai trương chinh thứ c là

́ 364.640.000 đồng; tiền đă ̣t co ̣c phải trả khi chấp nhâ ̣n hợp đồng là 291.712.000 đồng. Công ty khai trương và đưa Khu nghỉ dưỡng đi vào hoa ̣t đô ̣ng chinh thứ c

́ trong thờ i ha ̣n 36 tháng kể từ ngày cấp giấy phép xây dựng cuối cùng của dự án liên quan đến Khu nghỉ dưỡng. Công ty có quyền gia ha ̣n 06 tháng để xác đi ̣nh ngày khai trương chinh thứ c, Công ty se gữ ̉ i thông báo hoàn thành cho khách

́ hàng (Khoản 8.1 Điều 8 và khoản 10.4 Điều 10). Ngoài ra, Hợp đồng còn quy đi ̣nh về quyền và nghia vu ̣̃

của các bên, về thanh toán, đă ̣t co ̣c, về chuyển nhượng quyền và nghia vu ̣̃

phát sinh từ Hợp đồng.

Viê ̣c ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ giữa Công ty VTD vớ i bà Trần Thi ̣ Bich Ng được thực hiê ̣n sau khi bà Ng tham gia buổi hô ̣i thảo do Công ty tổ

́ chứ c, nên viê ̣c dành thờ i gian hợp lý để nghiên cứ u ky nô ̣̃ i dung của hợp đồng trướ c khi ký kết là quyền và trách nhiê ̣m của bà Ng. Bà Ng không dành thờ i gian hợp lý để nghiên cứ u ky nô ̣̃ i dung hợp đồng (nếu có) là lỗi của bà Ng, không phải là lỗi của Công ty VTD. Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ được ký kết giữa Công ty VTD vớ i bà Trần Thi ̣ Bich Ng không vi pha ̣m Điều 117 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự nên

́ phát sinh hiê ̣u lực. Mă ̣t khác, bà Ng đa tiến hã

̀nh đă ̣t co ̣c để bảo đảm cho viê ̣c thực hiê ̣n hợp đồng.

Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 3.1 Điều 3 của Hợp đồng sở hữu kỳ nghi:̉ Khách nghỉ dưỡng theo Hợp đồng này, đồng ý thuê phòng từ Công ty và Công ty ta ̣i đây đồng ý cho Khách Nghỉ dưỡng được thuê phòng .... Như vâ ̣y, bản chất của “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” là hợp đồng cung cấp di ̣ch vu ̣ lưu trú không phải là quyền sở hữu bất đô ̣ng sản.

Viê ̣c ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và viê ̣c đă ̣t co ̣c để được sở hữu kỳ nghỉ phù hợp vớ i quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 108, Điều 134, Điều 328 và Điều 405 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự.

Khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng quy đi ̣nh “Khách nghỉ dưỡng theo Hợp đồng này, cam kết không hủy ngang và đồng ý đă ̣t chỗ để hưở ng Quyền nghỉ dưỡng theo các điều khoản và điều kiê ̣n của hợp đồng này. Để đă ̣t chỗ, khách nghỉ dưỡng se thanh toã

́n tiền đă ̣t co ̣c cho Công ty theo Điều 5.2 và Phu ̣ lu ̣c C”. Căn cứ vào nô ̣i dung của Bản chinh sách đă ̣c biê ̣t ta ̣i sự kiê ̣n số PBRC-

́

NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và nô ̣i dung văn bản tiến đô ̣ thanh toán tiền đă ̣t co ̣c mà bà Trần Thi ̣ Bich Ng đa kỹ ́ kết thi Bản chinh sách đă ̣c biê ̣t ta ̣i sự kiê ̣n số

́

̀

́ PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 là hợp đồng đă ̣t co ̣c. Bà Trần Thi ̣ Bich

́ Ng đa chuyển cho Công ty VTD 109.392.000 đồngđể đă ̣̃

t co ̣c cho viê ̣c thực hiê ̣n hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ.

Vấn đề thiết kế mô hinh xây dựng của dự ánđa đượ̃

c UBND tỉnh

̀

Khánh Hòa đồng ý cho thay đổi ta ̣i Công văn số 3590/UBND-XDNĐ ngày 27/6/2016. Mô hinh dự án có thiết kế 3 chữ “Y” hay thiết kế2 chữ “V” không

̀ được thể hiê ̣n trong hợp đồng. Mă ̣t khác, dự án chưa hoàn thành đưa vào sử du ̣ng nên chưa có căn cứ để xác đi ̣nh viê ̣c thay đổi thiết kế mô hinh xây dựng

̀ gây thiê ̣t ha ̣i cho ngườ i tiêu dùng. Viê ̣c quảng cáo trên ta ̣p chi đa cõ ́ giấy phép

́ xuất bản hợp pháp. Trong quá trinh thi công dự án, Công ty VTD được cơ quan

̀ nhà nướ c có thẩm quyền cấp nhiều giấy phép xây dựng. Căn cứ vào giấy phép xây dựng tinh đến gần ngày xét xử sơ thẩm (Giấy phép xây dựng số 133/GPXD-

́ SXD ngày 24/10/2018) và thỏa thuâ ̣n của các bên được quy đi ̣nh ta ̣i khoản 8.1 Điều 8; khoản 10.4 Điều 10 của Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ thi Công ty VTD

̀ không vi pha ̣m thờ i ha ̣n khai trương, đưa dự án đi vào hoa ̣t đô ̣ng chinh thứ c và

́ bàn giao kỳ nghỉ cho khác hàng.

Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 và các phu ̣ lu ̣c kèm theo; Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện số PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016được giao kết giữa bà Trần Thi ̣ Bich Ng vớ i Công ty VTD không

́

thuô ̣c mô ̣t trong các trườ ng hợp giao di ̣ch dân sự vô hiê ̣u được quy đi ̣nh từ Điều 122 đến Điều 129 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự. Do đó cấp sơ thẩm không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Trần Thi ̣ Bich Ng về: (1) Yêu cầu chấm dứt thực hiện Bản

́ chính sách đặc biệt tại sự kiện số PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 được giao kết giữa bà Trần Thị Bích Ng với Công ty TNHH VTD; (2)Tuyên bố Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện số PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 được giao kết giữa bà Trần Thị Bích Ng với Công ty TNHH VTD vô hiệu; (3) Buô ̣c Công ty TNHH VTD trả lại cho bà Trần Thị Bích Ng 109.392.000 đồng(Một trăm lẻ chin triê ̣u ba trăm chin mươi hai ngà n đồng)là có

́

́ căn cứ .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thi ̣ Bich Ng. Giữ nguyên bản án

́ sơ thẩm.

Áp dụng Điều 328, Điều 401, Điều 513 và Điều 514 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 11 Luâ ̣t Thương ma ̣i; Điều 14, Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Điều 17 Luật Trọng tài thương mại; Mục 4 Chương IV Luật Du lịch; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bich

́ Ng, về viê ̣c: (1) Yêu cầu chấm dứt thực hiện Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện số PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 được giao kết giữa bà Trần Thị Bích Ng với Công ty TNHH VTD; (2)Tuyên bố Bản chính sách đặc biệt tại sự kiện số PBRC-NT-ESP-00036 ngày 21/12/2016 và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-N-050224 được giao kết giữa bà Trần Thị Bích Ng với Công ty TNHH VTD vô hiệu; (3) Buô ̣c Công ty TNHH VTD trả lại cho bà Trần Thị Bích Ng 109.392.000 đồng(Một trăm lẻ chin triê ̣u ba trăm chin mươi hai ngà n đồng).

́

́

2. Về án phí:

- Bà Trần Thi ̣ Bich Ng phải nộp 6.069.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

́ Được trừ 2.734.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0008913 ngày18/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố A, tỉnh Khánh Hòa. Bà Trần Thi ̣ Bich còn phải

́ nộp3.335.600 đồng án phí sơ thẩm dân sự.

- Bà Trần Thi ̣ Bich Ng phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

́ Được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0010420 ngày19/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố A, tỉnh Khánh Hòa. Bà Trần Thi ̣ Bich Ng đã nộp xong

́ án phí phúc thẩm dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ