- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đặng Thị Hoàng H - Đào Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguy n Văn D và bà Đặng Th Minh H sửa bản án sơ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/DS-PT Ngày: 29 - 3 - 2019 V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường.
Các Thẩm phán:
Bà Nguy n Thuy Liên.
Bà V Th Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Th Phương Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà V Th Lệ Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2019/TLPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2018/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Th Minh H, sinh năm 1976; có mặt.
Ông Nguy n Văn D, sinh năm 1975; v ng mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Đ nh.
Người đ i di n h p pháp của ông Nguyễn Văn D: Bà Đặng Th Minh H là người đại diện theo ủy quyền của ông D Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2018
- Bị đơn: Ông Đào Văn C, sinh năm 1965; cư trú tại Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Đ nh; có mặt.
- Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Th H, sinh năm 1969; có mặt.
2. Anh Đào Văn G, sinh năm 1992; v ng mặt.
3. Ch Đào Th Mỹ D, sinh năm 1986; v ng mặt.
4 Ch Đào Th Mỹ K, sinh năm 1989; v ng mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn K, xã P, huyện T, Bình Đ nh.
- Người kháng cáo: Bà Đặng Th Minh H và ông Nguy n Văn D là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T i đơn khởi ki n và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như t i phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị Minh H, ông Nguyễn Văn D thống nhất, trình bày:
Bà Đặng Th Minh H Hoàng và ông Nguy n Văn D là vợ chồng, ông D là em ông Đào Văn C cùng mẹ khác cha, vào ngày 20/10/2004 ông Đào Văn C và các con anh Đào Văn G; ch Đào Th Mỹ D; ch Đào Th Mỹ K thỏa thuận ký “Giấy chuyển nhượng” cho vợ chồng bà H và ông D một thửa đất đ có nhà ở, không ghi r diện t ch nhưng ghi có giới cận: Đông giáp ruộng; Tây giáp tỉnh lộ 64; B c giáp nhà C; Nam giáp nhà ông N, tọa lạc tại xóm 5, Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Đ nh.
Giá tr nhà đất là 20.000.000 đồng, vợ chồng bà H và ông D đ giao cho ông C 13.000.000 đồng, còn lại 7.000.000 đồng khi nào cất nhà thì giao đủ. Trong “Giấy chuyển nhượng” có ghi “Khi nào ông Đào H qua đời thì vợ chồng bà H, ông D mới được sử dụng”; “Giấy chuyển nhượng” này do hai bên viết tay chưa có cơ quan nhà nước chứng thực.
Đến ngày 28/02/2017 khi ông Đào H qua đời thì bà H và ông D tiến hành đổ đá xây móng nhà thì vợ chồng bà H và ông C ngăn cản không cho làm, từ đó đến nay vợ chồng bà H và ông D vẫn chưa làm nhà được theo như “Giấy chuyển nhượng” ngày 20/10/2004.
Nay vợ chồng bà H và ông D yêu cầu vợ chồng ông C và bà H giao lại nhà đất như “Giấy chuyển nhượng” ngày 20/10/2004, nếu vợ chồng ông C và bà H không giao nhà đất thì giao trả lại số tiền theo giá th trường hiện tại là 300.000.000 đồng để bà H và ông D mua lô đất khác.
Ngoài ra bà H, anh Dũng không yêu cầu gì khác.
T i bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử bị đơn ông Đào Văn C, trình bày:
Ông C công nhận là cùng mẹ khác cha với ông D; ông cũng công nhận vào ngày 20/10/2004 vợ chồng bà H và ông D cùng các con của ông là anh Đào Văn G; ch Đào Th Mỹ D, ch Đào Th Mỹ K có thỏa thuận, ký “Giấy chuyển nhượng”, một thửa đất đ có nhà ở không có ghi diện t ch nhưng có ghi giới cận như bà H và ông D trình bày là đúng, ông C công nhận chữ viết trong giấy “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 là chữ viết và chữ ký của ông cùng các con G, D, K cũng đ ký vào nhưng tiền chỉ một mình ông C công nhận đ nhận 13.000.000 đồng / 20.000.000 đồng. Vợ chồng bà H và ông D còn nợ lại 7.000.000 đồng khi nào cất nhà thì giao đủ. Trong “Giấy chuyển nhượng” có ghi “Khi nào ông Đào H qua đời thì vợ chồng H, D mới được sử dụng”
Sau khi viết “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 thì vào tháng 7 năm 2005 ông kết hôn với bà Trần Th H.
Theo yêu cầu của bà H và ông D thì trước đây ông đồng ý giao nhà đất cho vợ chồng bà H và ông D theo “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004, hoặc giao trả tiền thì 100.000.000 đồng nhưng vợ ông là bà Trần Th H không đồng ý nên ông cũng không đồng ý giao nhà đất đồng thời cũng không đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền theo giá th trường hiện tại là 300.000.000 đồng cho bà H và ông D mua lô đất khác.
T i bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử người có quyền l i nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H, trình bày :
Bà Hkết hôn với ông Đào Văn C vào tháng 7 năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND x P, huyện T, Bình Đ nh.
Theo yêu cầu của vợ chồng bà H và ông D thì bà H không đồng ý giao nhà đất cho vợ chồng bà H và ông D như “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 mà chồng bà là ông C đ ký và nhận tiền 13.000.000 đồng/20.000.000 đồng; đồng thời bà H cũng không đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền theo giá th trường hiện tại là 300.000.000 đồng cho bà H và ông D mua lô đất khác vì:
Ông C là chồng bà nhưng việc ông C viết “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004, nhận tiền trước khi kết hôn với bà, bà Hcông nhận sau khi kết hôn 7 năm 2005 với ông C thì bà về ở tại ngôi nhà từ đó đến nay.
Ngôi nhà đất mà ông C chuyển nhượng cho vợ chồng bà H và ông D ngày 20/10/2004 không phải nhà của ông C và các con G, D, K mà là của ông Đào H là ông nội chú em ruột ông nội của anh C), ông Đào H có vợ, có con nhưng vợ chết lâu, con chết từ lúc còn rất nhỏ.
Khi ông C viết “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 thì bà Hkhông biết nhưng khi về làm vợ ông C thì có nghe nói lại. Thời điểm ông C viết “Giấy chuyển nhượng” cho vợ chồng ông D và bà H thì ông H còn sống chưa cho bất kỳ ai, việc ông C và các con G, D, K cùng ký “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 là tùy tiện, trái pháp luật.
Sau khi bà H kết hôn 7 năm 2005 và về sống với ông C thì hai vợ chồng chăm sóc, nuôi ông Đào H nên vào ngày 15/8/2015 ông Đào H viết “Di chúc về việc cho cháu nhà ở và QSDĐ lâu dài”, để lại cho vợ chồng ông Đào Văn C và bà Trần Th H.
Đến 28/2/2017 khi ông Đào H qua đời thì vợ chồng bà H và ông C là người thờ cúng vợ chồng ông Đào H, việc vợ chồng bà H và ông D căn cứ vào “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 đ ngang nhiên để xây nhà là trái pháp luật, bà hoàn toàn không đồng ý.
Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn G; chị Đào Thị Mỹ D; chị Đào Thị Mỹ K:
Đ được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến tòa và không có bản trình bày, không yêu cầu gì.
Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2018/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huy n T, tỉnh Bình Định, quyết định:
Hủy giấy “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004;
Buộc ông C phải hoàn trả lại cho vợ chồng ông D và bà Minh Hoàng 75.077.775 đồng;
Bác yêu cầu của ông D và bà H đối với ông C và bà H phải giao nhà đất số thửa 37, tờ bản đồ 64, tọa lạc tại Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Đ nh hoặc hoàn trả 300.000.000 đồng;
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết đ nh về án ph dân sự sơ thẩm về chi ph xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 14/8/2018, bà H và ông D kháng cáo yêu cầu buộc ông C phải giao thửa đất và nhà đ chuyển nhượng và ông C phải ch u phần án ph .
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật tố tụng; đồng thời đề ngh chấp nhận một phần kháng cáo của bà H và ông D sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Bà H và ông D kháng cáo yêu cầu buộc ông C phải giao thửa đất và nhà đ chuyển nhượng và ông C; nhưng ông Cảnh không chấp nhận. Thấy rằng:
Về ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Giấy chuyển nhượng đề ngày 20/10/2004 giữa vợ chồng bà H, ông D và ông C cùng các con anh Đào Văn G, ch Đào Th Mỹ D, ch Đào Th Mỹ K, đây chỉ là giấy viết tay, chưa được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, không tuân theo quy đ nh về hình thức Hợp đồng được quy đ nh tại Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015. Hơn nữa ngôi nhà này là của ông Đào H, thời điểm 20/10/2004 ông Huệ còn sống và ông Đào H chưa cho ai nên ông C cùng các con G, D, K ký Giấy chuyển nhượng cho vợ chồng bà H là trái pháp luật. Do đó, Hợp đồng vô hiệu.
Về giải quyết hậu quả Hợp đồng vô hiệu:
Các bên phải hoàn lại cho nhau đ giao, đ nhận. Ông C đ nhận 13.000.000 đồng của vợ chồng bà H thì phải có ngh a vụ hoàn lại cho vợ chồng bà H 13.000.000 đồng.
Bồi thường thiệt hại do Hợp đồng vô hiệu: Theo Biên bản đ nh giá ngày 27/3/2019 thì giá tr nhà, đất là 615.110.239 đồng nên thiệt hại thực tế được xác đ nh là 399.821.655 đồng 615.110.239 đồng x 65 tương đương tỉ lệ tiền đ giao 13.000.000 đồng/20.000.000 đồng); xét về lỗi: Vì vợ chồng bà H, ông D và ông C là có mối quan hệ gia đình, ở cạnh nhà nhau đều biết đất là của ông H và thời điểm ngày 20/10/2004 ông H còn sống nhưng các bên thỏa thuận giá cả chuyến nhựơng nhà đất cho nhau nên cả hai bên đều có lỗi và mức độ lỗi ngang nhau 1/2 và hai bên phải ch u phần thiệt hại ngang nhau nên ông C phải giao trả lại cho vợ chồng bà H 193.410.827 đồng {(399.821655 đồng – 13.000.000 đồng /2 .
Anh G, ch D, ch K không nhận tiền từ vợ chồng bà H nên không có ngh a vụ hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà H. Bà H không ký “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 20/10/2004 và không nhận tiền từ vợ chồng bà H nên không có ngh a vụ hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà H.
Từ những nhận đ nh trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng bà H giữ nguyên bản án sơ thẩm buộc ông C phải giao trả lại cho vợ chồng bà H 206.410.827 đồng 193.410.827 đồng 13.000.000 đồng .
[2] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án ph , lệ ph Tòa án ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 12 thì ông D, bà H phải ch u 300.000 đồng án ph dân sự sơ thẩm, còn ông C phải ch u 10.320.541 đồng.
Về chi ph xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản: ông D, bà H và ông C mỗi bên ch u 3.250.000 đồng; bà H đ nộp tạm ứng 6.500.000 đồng nên ông C hoàn lại cho bà H 3.250.000 đồng.
Do sửa án sơ thẩm nên theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 29 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì ông D, bà H không phải ch u án ph dân sự phúc thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu đề ngh chấp nhận một phần kháng cáo của ông D, bà H sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận đ nh trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 117, 122, 123, 129, 131, 430, 500, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 luật đất đai 2013; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Ngh Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguy n Văn D và bà Đặng Th Minh H sửa bản án sơ.
1. Tuyên bố Giấy chuyển nhượng đề ngày 20/10/2004 giữa Nguy n Văn D và bà Đặng Th Minh H với ông Đào Văn C, anh Đào Văn G, ch Đào Th Mỹ D, ch Đào Th Mỹ K vô hiệu.
2. Buộc ông Đào Văn C phải hoàn trả lại cho ông Nguy n Văn D và bà Đặng Th Minh H 206.410.827 đồng (Hai trăm không sáu triệu bốn trăm mươi nghìn tám trăm hai mươi bảy đồng .
3. Về án ph :
3.1. Ông Nguy n Văn D, bà Đặng Th Minh H phải ch u 300.000 đồng án ph dân sự sơ thẩm được khấu trừ 6.250.000 đồng tiền tạm ứng đ nộp theo biên lai thu tiền số 0007192 ngày 04/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, ông Dũng bà Hoàng được nhận lại 5.950.000 đồng Năm triệu ch n trăm năm mươi nghìn đồng .
3.2. Ông Đào Văn C phải ch u 10.320.541 đồng Mười triệu ba trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi một đồng án ph dân sự sơ thẩm.
3.3. Ông Nguy n Văn D và bà Đặng Th Minh H được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng đ nộp theo biên lai thu tiền số 0002527 ngày 14/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.
3.4. Ông Đào Văn C hoàn lại cho bà Đặng Th Minh H 3.250.000 đồng Ba triệu hai trăm năm chục nghìn đồng chi ph xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản.
4. Về quyền, ngh a vụ thi hành án:
4.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy đ nh tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4.2. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Đ nh; - TAND huyện T; - CCTHADS huyện T; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, Tòa dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thường |