- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V bị truy tố về tội " Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17 /2018/HSST Ngày 17-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V1 NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tùng Lâm.
Các h i thẩm nhân dân:
1.Ông Hồ Văn Hạnh
2. Ông Nguyễn Phỉ Đính.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Dũng -Thư ký Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
- Đ i di n Vi n ki m s t nh n d n th x u n Hồ t nh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 17/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2018/HSST ngày 13/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXX-HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN V - sinh năm 1969 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C; con bà Nguyễn Thị Th (đều đã chết); bị cáo có vợ Nguyễn Thị Hồng V (đã ly hôn năm 2010); có 02 con hiện đang ở với mẹ; tiền sự, tiền án: Chưa. Về nhân thân: Tại bản án số: 323/HSST ngày 28/9/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Nguyễn Văn V 07 năm tù giam về tội “Giết người”, ngày 23/9/2005 chấp hành xong hình phạt tù; tại bản án số 20/2012/HSST ngày 17/5/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ xử phạt Nguyễn Văn V 02 năm 06 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”, ngày 26/4/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/01/2018, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Buôn Hồ - Có mặt tại phiên tòa.
-B h i:
Ông Lê Văn H, sinh năm 1963; trú tại: Tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1973; trú tại: Tổ dân phố 4, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Anh Nguyễn Quang Tr, sinh năm 1981; trú tại: Tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
- Ngƣời làm chứng:
1/Anh Nguyễn Văn T, sinh 1981; trú tại: Tổ dân phố 4, phường A, thị xã B,tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
2/Anh Nguyễn Tài V1, sinh năm 1973; trú tại: Tổ dân phố 4, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/12/2017, sau khi dự tiệc cưới tại xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô đi đến nhà em ruột của mình là anh Nguyễn Văn P tại tổ dân phố 4, phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk để thắp nhang cho mẹ nhân ngày giỗ. Khi đến nhà anh P chỉ có một mình anh Nguyễn Văn P1 là em ruột của V ở nhà, còn anh P đi làm dịch vụ gia chánh đám cưới chưa về, sau khi thắp nhang cho mẹ V nói với anh P1 có đồ ăn gì thì dọn để V và một số người bà con họ hàng ngồi ăn. Sau đó anh P1 dọn đồ ăn và đi mua một thùng bia về rồi anh P1, V và một số người bà con gia đình anh P ngồi nhậu, khi đang nhậu thì có anh Lê Văn H là người hàng xóm đi đến chơi thì anh P1 mời anh H vào cùng ngồi nhậu; ngồi nhậu được một lúc anh H thấy anh V to tiếng với người khác nên đi về trước. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày trong khi mọi người đang nhậu thì anh P chở đồ đạc từ tiệc cưới đi về, V cho rằng anh P là người thiếu trách nhiệm, không ở nhà làm giỗ cho mẹ mà bỏ đi nấu tiệc đám cưới nên V đã đi đến gây sự rồi dùng tay tát anh P hai cái vào mặt, được mọi người can ngăn anh P bỏ đi ra ngoài quán trước cổng nhà thì V đi theo tiếp tục gây sự xô xát với anh P. Lúc này có anh Nguyễn Tài V1 là người cùng họ hàng với anh P và V đi đến nhà anh P chơi và anh Lê Văn H đang coi đánh cờ tướng trước quán nhà anh P thấy vậy vào căn ngăn thì anh V1 bị V dùng tay đấm 01 cái vào mặt nên anh P nói “Ông đánh m t cái, chứ đánh cái thứ hai thì đánh lại”, nghe vậy thì V lấy xe mô tô điều khiển bỏ đi đến ngã ba trung tâm thị xã Buôn Hồ đổ xăng; còn anh P, ông H và anh V1 cùng một số người khác tiếp tục ngồi chơi nói chuyện trước quán nhà anh P. Do trong người còn đang bực tức với anh P nên sau khi đổ xăng, V điều khiển xe mô tô đi đến chợ Buôn Hồ mua 02 con dao; 01 con dao bầu có mũi nhọn, cán làm bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao dài 19 cm và 01 con dao chặt, cán làm bằng gỗ dài 14 cm, lưỡi dao dài 32 cm mục đích quay lại đánh anh P. Sau đó V để 02 con dao ở tay lái xe mô tô rồi điều khiển xe quay lại nhà anh P, khi đến cổng thì thấy anh P, anh V1 và ông H đang ngồi uống nước ở trong quán. Lúc này khoảng 16 giờ cùng ngày, V dừng xe lại lấy 02 con dao, tay phải cầm con dao chặt, tay trái cầm con dao bầu mũi nhọn xông vào đánh anh P, thấy vậy anh P và anh V1 bỏ chạy vào trong nhà, còn ông H đi đến đứng đối diện với V để can ngăn thì bị V dùng con dao bầu mũi nhọn đang cầm trên tay trái đâm một nhát theo hướng từ trái qua phải trúng vào sườn bên phải ông H gây thương tích, sau đó V tiếp tục đuổi theo anh P để đánh, khi đuổi vào đến hiên nhà, anh P thấy vậy cầm 01 khung sắt đánh trả lại V thì V dùng con dao chặt cầm trên tay phải chém nhiều nhát về người anh P trong đó một nhát trúng vào đỉnh đầu gây thương tích, lúc này được một số người can ngăn, hô hoán kéo anh P ra ngoài cổng, V tiếp tục cầm dao chạy vào phòng khách nhà anh P thì được anh Nguyễn Văn T em ruột của V và anh P xông vào ôm V can ngăn giật 02 con dao trên tay V làm hai con dao rơi xuống nền nhà, sau đó V ra lấy xe mô tô bỏ chạy; còn ông H và anh P bị thương được mọi người đưa đi bệnh viện Đa khoa thị xã Buôn Hồ cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk tiếp tục điều trị thương tích.
Bản kết luận pháp y thương tích số 179/PY-TgT ngày 16/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Anh Nguyễn Văn P vết thương đầu, vật tác động sắc bén, tỷ lệ thương tích 05%.
Bản kết luận pháp y thương tích số 180/PY-TgT ngày 16/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Ông Lê Văn H vết thương thấu ngực phải, tràn khí
- tràn máu màng phổi, vật tác động sắc nhọn, tỷ lệ thương tích 16%.
Vật chứng của vụ án Cơ quan điều tra thu giữ: 01con dao bầu, có mũi sắc nhọn, cán dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao dài 19cm và 01con dao chặt, cán dao bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao dài 32cm, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn V dùng dao chém anh Nguyễn Văn P một nhát trúng vào đầu gây thương tích 05 %, nhưng anh P đã tự nguyện làm đơn bãi nại không yêu cầu khởi tố đối với V và đấm anh V1 một cái vào mặt nhưng không gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ không khởi tố đối với V về hành vi cố ý gây thương tích cho anh P, anh V1.
Sau khi thực hiện tội phạm giữa bị cáo và người bị hại là ông Lê Văn H, đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho ông H số tiền 53.400.000đ (Năm mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng). Bị cáo đã bồi thường là 20.000.000(Hai mươi triệu đồng), bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 16/CT- VKSBH, ngày 11/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội“Cố ý gây thương tích”. theo quy định tại điểm a, i khoản 1 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ giữ quyền công tố trình bày luận tội và tranh luận xác định: Do xem thường pháp luật của Nhà nước và xem thường sức khỏe của người khác. Nên vào khoảng 16 giờ ngày 27/12/2017 tại TDP 4, phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lắk, bị cáo Nguyễn Văn V đã có hành vi vô cớ, dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm ông Lê Văn H một nhát trúng vào ngực phải, gây thương tích tràn khí - tràn máu màng phổi, làm cho ông H bị tổn thương cơ thể 16% (mười sáu phần trăm). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, i khoản 1; 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.
Về các biện pháp tƣ pháp:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 01con dao bầu, có mũi sắc nhọn, cán dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao dài 19cm và 01con dao chặt, cán dao bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao dài 32cm, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Văn V đã tự nguyện thoả thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho ông H số tiền 53.400.000đ (Năm mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng). Bị cáo đã bồi thường là 20.000.000(Hai mươi triệu đồng), và còn phải bồi thường tiếp số tiền 33.400.000đ (Ba mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa người bị hại thừa nhận lời khai của bị cáo tại phiên tòa là đúng và người bị hại không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát V, của bị cáo, người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, Điều tra V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, HĐXX nhận thấy là không phù hợp. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 7 BLHS năm 2015 thì Điều luật được áp dụng đối với hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/01/2018, các tình tiết giảm nhẹ không có gì mới so với Điều 46 BLHS năm 1999, vì vậy HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điều 46 BLHS năm 1999.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận: Do xem thường pháp luật của Nhà nước và xem thường sức khỏe của người khác, bị cáo đã có hành vi vô cớ, dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm ông Lê Văn H một nhát trúng vào ngực phải, gây thương tích tràn khí - tràn máu màng phổi, làm cho ông H bị tổn thương cơ thể 16% (mười sáu phần trăm), vật tác động sắc, nhọn. Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH 13 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 là quy định có lợi hơn cho người phạm tội nên bị cáo được hưởng quy định này.
Tại điểm a, i khoản 1 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm …;
…
i) Có tính chất côn đồ;
…….
2. Phạm t i thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
…………
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thu c m t trong các trường hợp quy định tại các điểm a, đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi để bị cáo biết được rằng tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý được pháp luật hình sự bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác đều bị pháp luật nghiêm trị, song do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác nên vào khoảng vào khoảng 16 giờ ngày 27/12/2017 tại TDP 4, phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lắk, bị cáo đã có hành vi vô cớ, dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm ông Lê Văn H một nhát trúng vào ngực phải, gây thương tích tràn khí - tràn máu màng phổi, làm cho anh H bị tổn thương cơ thể 16% (mười sáu phần trăm) vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị kết án về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” sau khi chấp hành xong hình phạt tù và được xóa án tích nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được bên bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, vì vậy khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục, bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và góp phần phòng ngừa tội phạm chung và riêng trong toàn xã hội.
Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra bị cáo và người bị hại thỏa thuận bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 53.400.000đ (Năm mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng) gồm: Tiền thuê xe cấp cứu 2.000.000đ, tiền viện phí 10.000.000đ; tiền thu nhập bị mất trong 7 ngày là 1.400.000đ, tiền thu nhập của người chăm sóc 1.400.000đ, tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nghỉ phục hồi sức khỏe 200.000đ x 90 ngày = 18.000.000đ, tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe 5.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần 15.600.000đ. Người bị hại không yêu cầu gì thêm, bị cáo đã bồi thường được 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng), số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường tiếp là 33.400.000đ (Ba mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng) là phù hợp với Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao bầu, có mũi sắc nhọn, cán dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao dài 19cm và 01con dao chặt, cán dao bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao dài 32cm, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn V dùng dao chém một nhát trúng vào đầu gây thương tích 05% cho anh P, nhưng anh P đã tự nguyện làm đơn bãi nại không yêu cầu khởi tố đối với V và đấm anh V1 một cái vào mặt nhưng không gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ không khởi tố đối với V về hành vi cố ý gây thương tích cho anh P, anh V1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì c c lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ khoản 2 Điều 134 B luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, các điểm b, p khoản 1; khoản 2 Điều 46 B luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc h i khóa 14.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/01/2018.
-Về bồi thƣờng thiệt hại:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 357; các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 B luật dân sự;
Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện thoả thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho ông Lê Văn H số tiền 53.400.000đ (Năm mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng) gồm: Tiền thuê xe cấp cứu 2.000.000đ, tiền viện phí 10.000.000đ; tiền thu nhập bị mất trong 7 ngày là 1.400.000đ, tiền thu nhập của người chăm sóc 1.400.000đ, tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nghỉ phục hồi sức khỏe 200.000đ x 90 ngày = 18.000.000đ, tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe 5.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần 15.600.000đ. Tổng cộng 53.400.000đ, bị cáo đã bồi thường là 20.000.000(Hai mươi triệu đồng), số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường tiếp là 33.400.000đ (Ba mươi ba triệu, bốn trăm ngàn đồng).
Áp dụng khoản 2 Điều 357 BLDS để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án.
-Về xử lý vật chứng:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 B luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 106 B luật tố t ng hình sự .
- Tịch thu tiêu hủy: 01con dao bầu, có mũi sắc nhọn, cán dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao dài 19cm và 01con dao chặt, cán dao bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao dài 32cm.
(Đặc điểm c thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ với Chi c c thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, vật chứng do Chi c c Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ quản lý).
- Về án phí:
- Căn cứ Điều 136 B luật tố t ng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc h i.
Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.670.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận -TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND thị xã Buôn Hồ; -Công an thị xã Buôn Hồ; -Chi c c THADS thị xã Buôn Hồ; - Cơ quan THA hình sự công an TX Buôn Hồ; -Bị cáo, đương sự; -Lưu HS, Vp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Tùng Lâm |