- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2018/HS-ST Ngày 27- 6- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Cẩm Lựa.
Bà Phạm Kim Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14 /2018/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm 1997, tại Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp 5, xã Thuận Hòa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà Trần Thị H; vợ: bị cáo chưa vợ; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lê Văn B, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: ấp Bình Phong, xã Vĩnh Tường, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Đặng Châu Á, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: ấp Bình Phong, xã Vĩnh Tường, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Là người làm chứng. Có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: ấp 2, xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Là người làm chứng. Vắng mặt.
3. Ông Trương Hiếu T, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: ấp 3, xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Là người làm chứng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 07/01/2018, bị cáo Nguyễn Thành L cùng hai người bạn tên Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Văn H (gọi tắt là nhóm L, Ph H) nhậu tại quán Phương Nam thuộc huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Đến khoảng 00 giờ ngày 08/01/2018 thì cả nhóm nghỉ nhậu. H điều khiển xe môtô (không rõ biển số) chở L và Ph về. Khi đi đến cầu Lầu Tây thuộc ấp 3, xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thì thấy Đặng Châu Á, bị hại Lê Văn B và Trương Hiếu T (gọi tắt là nhóm B, Á, T) đang đứng trên cầu. Khi nhóm của bị cáo L chạy xe ngang qua nhóm của bị hại B thì L nói: “Mấy thằng mày muốn chơi không?” thì B trả lời: “Muốn chơi thì chơi!”. Nghe vậy, H điều khiển xe quay lại chỗ nhóm của T đang đứng. Khi đến nơi Ph bước xuống xe đi lại chỗ của T, thấy T lớn tuổi nên Ph xin lỗi T, nghe nói vậy thì nhóm của T không nói gì. Sau đó, nhóm của Ph và nhóm của T tổ chức nhậu tại cầu Lầu Tây. Nhậu được một lúc thì T rủ cả nhóm đi đến thành phố Vị Thanh hát karaoke và nhậu tiếp thì mọi người đồng ý. Tại đây, Á và B mỗi người góp 500.000 đồng, T góp 400.000 đồng, Ph cùng Hiếu và L góp 500.000 đồng. Tất cả đưa tiền cho T giữ rồi 06 người đi trên 02 xe môtô đến thành phố Vị Thanh tìm quán nhậu tiếp. Khi đến thành phố Vị Thanh, tất cả vào quán karaoke Mộng Lạc Viên thuộc khu vực 3, phường III để nhậu và hát karaoke. Khi nhậu thì mỗi người có kêu 01 nữ tiếp viên ngồi chung. Nhậu đến khoảng 04 giờ ngày 08/01/2018 cả nhóm nghỉ nhậu. T ra trả tiền, còn nợ lại 800.000 đồng nên H và B để lại 02 xe môtô lại thế chấp rồi ra về. Khi ra khỏi quán, Ph và Á xảy cự cãi dẫn đến đánh nhau bằng tay (do Á nghe Ph nói nhóm của T “chơi dơ”). Thấy Ph và Á đánh nhau thì H và L cũng xong vào đánh Á bằng tay. Lúc này, B cũng xong và đánh Ph, H và L làm cho Ph, L té nằm trên vĩa hè, còn T thì vào can hai bên ra. Sau khi bị ngã, L dùng tay phải lấy cây dao xếp để trong túi quần trước bên phải đâm vào người của B 02 cái trúng vào cổ và lưng trái, nên B bỏ chạy về hướng phường I, thành phố Vị Thanh. Thấy B bỏ chạy, L quay sang chỗ Á tiếp tục dùng dao trên đâm vào vai trái của Á 01 cái. Sau khi bị đâm, Á bỏ chạy theo hướng về phường VII, thành phố Vị Thanh. B và Á được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa Hậu Giang điều trị vết thương. Còn L cất dao vào cặp da rồi cùng với Ph, H và T bỏ đi về hướng phường I, thành phố Vị Thanh thì bị Công an phường III mời về làm việc.
Tang vật chứng thu giữ được:
- 01 (một) cặp da loại có dây đeo, hiệu GIORGIOARMANI đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây dao xếp bằng kim loại, màu đen, dài 22cm, cán dao dài 11cm, lưỡi dao dài 11cm, đường kính lưỡi dao nơi rộng nhất 02cm, dao đã qua sử dụng.
- Nhiều mảnh ngói vỡ.
- 01 (một) nón kết hiệu GUCCI màu đen.
Tại Bản kết luận giám định pháp ý về thương tích số 16/TgT ngày 24/01/2018 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Hậu Giang kết luận.
Dấu hiệu chính tại thời điểm giám định:
Đa vết thương phần mềm.
Vết thương thủng màng phổi – dày dính đáy phổi trái.
1. Tỷ lệ thương tích từng vết thương tổn hại đến sức khỏe hiện tại là:
- Vết thương cổ trái là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương lưng trái là: 23% (hai mươi ba phần trăm).
2. Tổng tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe hiện tại của Lê Văn B là: 24% (hai mươi bốn phần trăm).
3. Cơ chế hình thành vết thương: Các vết thương do vật sắc nhọn gây nên.
Đối với Đặng Châu Á do thương tích nhẹ không ảnh hưởng đến sức khỏe, Á đã làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự và từ chối giám định thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vị Thanh không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo L đã khắc phục hậu quả cho Lê Văn B số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng). B đã nhận và làm đơn bãi nại cho bị cáo L.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS-TPVT ngày 14/5/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố đề nghị:
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về tang vật chứng: đề nghị tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.
Về trách nhiệm dân sự: không xem xét, do không có yêu cầu.
Phát biểu tự bào chữa bị cáo Nguyễn Thành L thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, ngoài ra không phát biểu gì thêm.
Phát biểu tại phiên tòa bị hại ông Lê Văn B thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường, ông B thừa nhận trước đây đã nhận của bị cáo L 8.000.000 đồng. Nay không yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành L thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ; phù hợp với thời gian, địa điểm, thương tích mà bị cáo gây ra trên cơ thể bị hại; phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trên hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào các chứng cứ này và Kết luận giám định tỷ lệ thương tật tổn hại đến sức khoẻ bị hại của cơ quan chuyên môn. Đối chiếu với quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là bộ luật hình sự). Toà có đủ cơ sở kết luận: hành vi dùng dao (loại dao xếp) đâm hai nhát gây thương tích cho ông Lê Văn B vào ngày 08/01/2018 mà bị cáo Nguyễn Thành L thực hiện như đã nêu trên, có đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo Nguyễn Thành L thực hiện hành vi gây thương tích cho ông Lê Văn B tỷ lệ 24%, là đủ yếu tố cấu thành cơ bản tội phạm. Phạm tội trong trường hợp có “dùng hung khí nguy hiểm”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
. Xét tính nguy hiểm của hành vi. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra giữa đêm khuya để lại hậu quả xấu tại địa phương, nhất là tại các quán nhậu về tình hình an ninh, trật tự. Diễn biến sự việc cho thấy trước khi phạm tội bị cáo đã tụ tập băng nhóm ăn nhậu xuyên đêm, nhậu ở nhiều địa điểm. Khi lưu thông trên đường thì vi phạm luật giao thông (chạy xe chở 03). Có mang theo hung khí (dao), khi xảy ra mâu thuẫn, va chạm thì sẵn sàng đánh nhau, dù đó là người nhậu chung trước đó. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính quyết liệt cao đâm nhiều nhát (đâm B 02 nhát, đâm Á một nhát), riêng Á do tránh được nên thương tích không lớn và không có yêu cầu xử lý.
. Xét về nhân thân. Bị cáo L là người có nhân thân mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội có thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả.
. Xét tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội trong trường hợp có “dùng hung khí nguy hiểm”. Tuy nhiên, do tình tiết này đã được áp dụng làm tình tiết định khung hình phạt, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét tình tiết giảm nhẹ. Sau khi phạm tội, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có thỏa thuận khắc phục hậu quả, được giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra xét thấy tại phiên tòa, bị hại Lê Văn B có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Tòa xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xét bị cáo phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo gây dư luận xấu tại địa phương, nên cần xử phạt tù giam để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
. Về tang vật chứng:
- 01 (một) cặp da loại có dây đeo, hiệu GIORGIOARMANI đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây dao xếp bằng kim loại, màu đen, dài 22cm, cán dao dài 11cm, lưỡi dao dài 11cm, đường kính lưỡi dao nơi rộng nhất 02cm, dao đã qua sử dụng.
- Nhiều mảnh ngói vỡ.
- 01 (một) nón kết hiệu GUCCI màu đen.
Là những vật chứng có liên quan đến tội phạm hoặc vật chứng không liên quan, nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: quá trình điều tra bị cáo L đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại B 8.000.000 đồng. Ông B đã nhận xong. Tại phiên tòa ông B không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Tòa không xem xét.
. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Thành L chịu theo quy định của pháp luật.
. Về phát biểu luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: xét, đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, các vấn đề khác là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Về tang vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) cặp da loại có dây đeo, hiệu GIORGIOARMANI đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây dao xếp bằng kim loại, màu đen, dài 22cm, cán dao dài 11cm, lưỡi dao dài 11cm, đường kính lưỡi dao nơi rộng nhất 02cm, dao đã qua sử dụng.
- Nhiều mảnh ngói vỡ.
- 01 (một) nón kết hiệu GUCCI màu đen.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành L chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Vị Thanh; - CQ THAHS CAT. Hậu Giang; - CQ CSTHAHS CATP. Vị Thanh; - CQCSĐT CATP. Vị Thanh; - Chi cục THADSTP. Vị Thanh; - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thái Sơn |