vanban.org

Bản án 17/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo LXC phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo LXC 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo LXC bồi thường cho ông TTĐ và bà PTL (Trú tại: Thôn ĐN 2, xã T, Y, Thanh Hóa) số tiền 350.000đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản dưới 2 triệu - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo LXC phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HS-ST
Ngày: 19-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Viết Nguyên

Ông Lê Việt Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Thư ký Tòa án, TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: LXC - Sinh ngày: 11/9/1979. Tại: xã T, huyện Y, Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn TL 1, xã T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố: LXN, sinh năm: 1945, hiện sinh sống tại xã T, huyện Y, Mẹ: PTH (đã chết); Gia đình có 3 chị em, LXC là con thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 04 tiền án.

- Ngày 12/02/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 06 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Ngày 25/11/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 28/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 07/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông TTĐ, sinh năm 1966 và bà PTL, sinh năm 1973.

Đều trú tại: Thôn ĐN 2, xã T, huyện Y, Thanh Hóa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông LXN, sinh năm 1946

Trú tại: Thôn TL 1, xã T, huyện Y, Thanh Hóa.

Người làm chứng:

- Bà Vũ Thị Hương, sinh năm 1967, bà Lê Thị Dậu, sinh năm 1957.

Đều trú tại: Thôn ĐN 2, xã T, huyện Y, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 17/01/2018 bị cáo LXC, sinh ngày 11/9/1979 ở Thôn TL 1, xã T, huyện Y đi xe đạp từ nhà bị cáo để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến bờ đê Thôn Đan nê 2, xã Yên Thọ, LXC xuống một con dốc rồi đi thẳng đến ngã tư thì rẽ trái, đi thêm một vài ngõ nữa LXC dựng xe đạp rồi vào một ngõ phía tay trái cách đầu ngõ khoảng 30m và đi bộ vào trong ngõ. Khi đi đến nhà ông TTĐ, bị cáo nghe thấy có tiếng gà gáy nên đã nảy sinh ý định vào nhà ông TTĐ trộm cắp gà.

Bị cáo LXC quan sát thấy cửa cổng nhà ông TTĐ không khóa, người trong nhà đã ngủ hết nên bị cáo mở cửa đi vào trong sân, rồi đi tiếp đến một gian nhà phía tay trái có cửa làm bằng tre, cửa không khóa nên bị cáo LXC đã nhanh chóng đi đến chuồng gà nhà ông TTĐ nơi có tiếng gà gáy. Bị cáo quan sát thấy có một con gà trống to nhất ở trong chuồng nên đã dùng tay bắt được con gà này. Khi vừa bắt được gà cầm trên tay, thấy có bóng người đi đến soi đèn, nên LXC đã nhảy lên tường sang nhà bà Lê Thị Đức cạnh đó để tẩu thoát, trong lúc tẩu thoát bị cáo LXC đã làm rơi con gà xuống vườn nhà bà Đức. LXC không bắt lại được gà mà tiếp tục bỏ chạy. Khi bỏ chạy LXC đã để lại chiếc xe đạp thống nhất nữ màu xanh đã cũ cùng một đôi giầy vải màu xanh đã cũ, cỡ 42 ở trong giỏ xe, cách cổng nhà ông TTĐ khoảng 30m.

Tại cơ quan điều tra Cđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của LXC phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu đã thu được có trong hồ sơ vụ án.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 09/02/2018, Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định đã định giá con gà trống nặng 3,5kg, trị giá 350.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 15 ngày 02/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo LXC về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để xử phạt bị cáo LXC từ 12 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo LXC phải bồi thường trị giá con gà trống cho gia đình ông TTĐ, bà PTL là 350.000đ.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe đạp là tài sản của ông Nghiên, bị cáo đã tự ý lấy đi, cơ quan công an đã trả lại cho ông Nghiên là phù hợp. Đôi dày vải cỡ 42 của bị cáo LXC đã cũ, bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo LXC khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo LXC thừa nhận: Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 17/01/2018, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 con gà trống của gia đình ông TTĐ, bà PTL trị giá 350.000đ, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trước đó, năm 2014 và năm 2016 bị cáo LXC đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản dưới hai triệu đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo LXC phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo 4 tiền án, trong đó có 2 tiền án về tội trộm cắp tài sản, tuy các tiền án này theo quy định chỉ là tình tiết định tội, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, khả năng tự giáo dục, cải tạo bản thân của bị cáo không cao. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tài sản bị trộm cắp thuộc trường hợp phạm tội gây thiệt hại không lớn, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra công an huyện Yên Định xác định chiếc xe đạp mà LXC sử dụng đi trộm cắp là tài sản của ông Lê Xuân Nghiên (bố của bị cáo), ông Nghiên không biết việc bị cáo LXC lấy để đi trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Định đã trả lại cho ông Nghiên quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với đôi giày vải màu xanh, cỡ 42 của bị cáo LXC thu giữ trong quá trình điều tra, truy tố, hiện đang lưu giữ theo phiếu nhập kho số NK000244 ngày 04/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng đôi giày đã cũ, không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Con gà trống do bị cáo LXC trộm cắp là tài sản của ông TTĐ, bà PTL, trên đường tẩu thoát bị cáo đã làm mất, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy, do vậy buộc bị cáo LXC phải bồi thường trị giá con gà là 350.000đ cho ông TTĐ, bà PTL.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 135; điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo LXC phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo LXC 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo LXC bồi thường cho ông TTĐ và bà PTL (Trú tại: Thôn ĐN 2, xã T, Y, Thanh Hóa) số tiền 350.000đ.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đôi giầy vải màu xanh, cỡ 42 đã cũ của bị cáo LXC theo phiếu nhập kho số NK000244 ngày 04/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định.

Về án phí: Bị cáo LXC phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ