- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì ma túy mà Cơ quan giám định hoàn trả lại sau giám định, 01 tẩu thủy tinh, số vật chứng này hiện đang cất giữ tại …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2018/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Biên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Lại
Bà Hoàng Thị Phương Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2018/TLST - HS, ngày 30 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST - HS, ngày 13 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Lưu Đại D, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1993, tại thành phố Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố 17, thị trấn B, huyện H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Quốc H (đã chết) và bà Lưu Thị N; có vợ là Bùi Thị H và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 30 tháng 5 năm 2018 chuyển tạm giam ngày 02 tháng 6 năm 2018; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Trần Trung C, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29 tháng 5 năm 2018, Lưu Đại D trú tại tổ dân phố 17, thị trấn B, huyện H, thành phố Hải Phòng đi vào nội thành để giải quyết công việc gia đình. Sau khi giải quyết công việc gia đình xong, Lưu Đại D đi đến khu vực đường Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng được 01 túi ni lon ma túy. Về nhà Lưu Đại D đã sử dụng một ít, đến khoảng 02 giờ, ngày 30 tháng 5 năm 2018 một mình D mang theo số ma túy còn lại đi ra khu vực tổ dân phố 18, thị trấn B để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Cát Hải bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy của D. Khám xét tại nơi ở của Lưu Đại D, Công an huyện Cát Hải còn thu giữ 01 tẩu thủy thủy tinh đã bị gãy là dụng cụ mà D dùng để sử dụng ma túy.
Tại Kết luận giám định số 262/KLGĐ (Đ6), ngày 31 tháng 5 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng chứa trong túi ni lon thu giữ của Lưu Đại D do Công an huyện Cát Hải gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3315 gam là loại: Methamphetamine.
Lưu Đại D bị bắt tạm giữ từ ngày 30 tháng 5 năm 2018 sau đó tiếp tục bị tạm giam.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lưu Đại D do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải không có cơ sở xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Sáng 29 tháng 5 năm 2018, một mình bị cáo đi vào nội thành Hải Phòng để giải quyết việc gia đình, sau khi xong công việc, bị cáo nảy sinh mua ma túy “đá” để sử. Bị cáo đi đến khu vực đường Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 500.000 đồng được 01 túi ni lon ma túy “đá” mục đích về sử dụng dần. Về nhà, bị cáo đã sử dụng một ít. Đến khoảng 02 giờ, ngày 30 tháng 5 năm 2018 bị cáo mang số ma túy còn lại đi sử dụng thì bị Công an huyện Cát Hải bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy bị cáo mang theo.
Lời khai của người làm chứng ông Trần Trung C, tại Cơ quan điều tra đều khẳng định: Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 5 năm 2018 ông đang trực bảo vệ tại khách sạn L thuộc tổ dân phố 18, thị trấn B, huyện Cát Hải thì thấy Công an huyện Cát Hải bắt giữ và khám xét trên tay Lưu Đại D một túi ni lon bên trong chứa tinh thể màu trắng D khai đó là ma túy “đá” đang mang đi để sử dụng.
Từ những hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 15/CT - VKS, ngày 30 tháng 8 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lưu Đại D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải giữ quyền công tố luận tội và tranh luận về hành vi phạm tội của bị cáo là Tàng trữ trái phép chất ma túy, chất gây nghiện mà Nhà nước nghiêm cấm. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng ma túy, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh cũng như về hình phạt, tuy nhiên bị cáo biết mình vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, với xã hội để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giữ, tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đồng thời được Viện Kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các giấy tờ tố tụng cho bị can, bị cáo, người làm chứng được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật.
. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người được thạm gia tố tụng tại phiên tòa.
. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
- Về chứng cứ:
. Bị cáo Lưu Đại D khai nhận: Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2018, bị cáo từ nhà đi vào nội thành Hải Phòng để giải quyết việc gia đình sau đó bị cáo đi đến khu vực đường Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng được 01 gói ma túy đá mục đích để sử dụng. Về nhà, bị cáo đã sử dụng một ít số ma túy còn lại bị cáo mang đến khu vực tổ dân phố 18, thị trấn B để sử dụng thì bị Công an huyện Cát Hải bắt giữ.
. Tại Kết luận giám định số 262/KLGĐ (Đ6), ngày 31 tháng 5 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng chứa trong túi ni lon thu giữ của Lưu Đại D do Công an huyện Cát Hải gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3315 gam là loại: Methamphetamine.
. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, cũng như chấp nhận Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải tại bản cáo trạng số 15/CT - VKS, ngày 30 tháng 8 năm 2018 truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
. Lời khai trên đây của bị cáo Lưu Đại D phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải đã truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- Về áp dụng pháp luật:
. Hành vi phạm tội của bị cáo là Tàng trữ trái phép chất ma túy, chất gây nghiện mà Nhà nước nghiêm cấm mục đích để sử dụng. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ khi thu giữ là 0,3315 gam thuộc loại Methamphetamine.
. Từ những phân tích trên đây có đủ cơ sở để kết luận: Lưu Đại D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xét xử để làm gương răn đe kẻ khác đồng thời cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, với cộng đồng để làm lại cuộc đời.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự người phạm tội có thể bị phạt tiền tuy nhiên bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng, xử lý vật chứng: Số ma túy và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 phong bì ma túy mà Cơ quan giám định hoàn trả lại sau giám định, 01 tẩu thủy tinh là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật cấm tàng trữ, lưu hành quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mức chịu án phí căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lưu Đại D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 30 tháng 5 năm 2018.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì ma túy mà Cơ quan giám định hoàn trả lại sau giám định, 01 tẩu thủy tinh, số vật chứng này hiện đang cất giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31 tháng 8 năm 2018.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lưu Đại D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hải Phòng; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Trại giam CA TP. Hải Phòng; - PV 27 Công an TP. Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cát Hải; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải; - Công an huyện Cát Hải; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Biên |