vanban.org

Bản án 17/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 17/2018/HS-ST Tuyên án 16/08/2018
Phúc thẩm Bản án 492/2018/HSPT-QĐ Tuyên án 07/11/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung nă…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

Số: 17/2018/HS-ST

Ngày: 16/08/2018

TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M HUYỆN CẦN GI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TH NH PHỐ HỒ CHÍ MINH NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN CẦN GI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Th nh phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Huỳnh Thạch Vũ Hội thẩ nhân dân: 1. Ông Lâm Thành Danh 2. Bà Đặng Thị Hoàng - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Long - Kiểm sát viên. Vào ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2018/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 02/2018/TB-TA ngày 13 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Ngọc S (tên gọi khác: B); sinh ngày: 29/3/1995 tại Thành phố H; hộ khẩu thường trú: Tổ 6, khu phố A, thị trấn C, huyện G, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Trần Ngọc T – sinh năm: 1973; con bà Đoàn Thị Kim L – sinh năm: 1978; anh chị em có 01 người (sinh năm: 1998); vợ con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04 tháng 5 năm 2018 đến ngày 07 tháng 5 năm 2018, được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07 tháng 5 năm 2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào kho ng 13 giờ ngày 04/5/2018, Đội C nh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Cần Giờ phối hợp với Công an xã Bình Khánh tuần tra trên tuyến đường Rừng Sác. Khi tuần tra đến khu vực thuộc tổ 7, ấp Bình An, xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ phát hiện 01 thanh niên có nhiều biểu hiện nghi vấn tiến hành kiểm tra phát hiện Trần Ngọc S đang có hành vi tàng trữ 01 gói nylon, bên trong chứa tinh thể rắn không màu nghi là ma túy đá. Tổ công tác tiến hành lập biên b n bắt giữ người phạm tội qu tang, đồng thời thu giữ vật chứng liên quan và đưa S về trụ sở làm việc. Bị cáo S khai nhận do b n thân có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên kho ng 11 giờ ngày 04/5/2018, bị cáo đón xe buýt đến xã Bình Khánh gặp Huỳnh Minh T (tên thường gọi là C1) – sinh năm: 1992; ngụ tại: tổ 7, ấp B, xã K, huyện G để mua ma túy với số tiền 400.000đ về sử dụng. Sau khi mua ma túy xong thì bị Công an bắt giữ. Trước đây, bị cáo còn mua ma túy 02 lần tại Quận 8, Thành phố H, mỗi lần mua số tiền 200.000đ – 300.000đ. Bị cáo gửi người chạy xe ôm mua dùm, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người chạy xe ôm nên cơ quan c nh sát điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ và xử lý. Cơ quan c nh sát điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Huỳnh Minh T, thời điểm khám xét T không có mặt tại địa phương, kết qu khám xét không thu giữ được vật chứng liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T như Sơn đã khai nhận. Theo Kết luận giám định số: 831/KLGĐ-H ngày 11/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu thu giữ là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5558g, loại Methamphetamine. Tại cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giờ bị cáo Trần Ngọc S thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Vật chứng thu giữ: - 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu là ma túy, có khối lượng là 0,5558g, loại Methamphetamine. Sau khi phục vụ giám định còn lại 0,5038g. - 01 điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu NOKIA 105 đã qua sử dụng. - 01 ống hút màu trắng tím.

Tại b n cáo trạng số: 18/Ctr-VKS ngày 13/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo Trần Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Áp dụng Điều 38; điểm s kho n 1 Điều 51; điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Trần Ngọc S với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù Về vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Ngọc S khai nhận kho ng 11 giờ ngày 04/5/2018 bị cáo đi đến xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ để mua ma túy từ Huỳnh Minh T. Sau khi bị cáo mua xong thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Tang vật thu giữ trên người bị cáo có 01 gói ma túy vừa mua được. Mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng và đây là lần đầu bị cáo mua ma túy từ Th o. Căn cứ theo Kết luận giám định số: 831/KLGĐ-H ngày 11/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu thu giữ là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5558g; loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,5558g. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm c kho n 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ là có căn cứ. [3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: - Bị cáo trên 18 tuổi, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để nhận thức rõ tác hại của ma túy. Ma túy là chất gây nghiện và nh hưởng đến sức khỏe, tàn phá cơ thể người sử dụng. Nhưng vì để nhu cầu thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến các quy định về phòng, chống và kiểm soát ma túy của cơ quan Nhà nước và gây nh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo, làm nh hưởng đến tinh thần và đời sống vật chất của những người khác, làm phát sinh các tệ nạn xã hội. - Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự. - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. - Tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Đây là các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. [4] Về quyết định hình phạt: Mặc dù trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử

xét thấy cần ph i áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện c i tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. [4]. Về xử lý vật chứng: - 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu là ma túy, có khối lượng là 0,5558g, loại Methamphetamine. Sau khi phục vụ giám định còn lại 0,5038g là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy. (Biên b n giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Cần Giờ và Chi cục Thi hành án huyện Cần Giờ ngày 19 tháng 7 năm 2018)

- 01 điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu NOKIA 105 đã qua sử dụng. Xét vật chứng này sử dụng để làm phương tiện liên lạc mua trái phép chất ma túy nên được tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. - 01 ống hút màu trắng tím. Xét vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. (Biên b n giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Cần Giờ và Chi cục Thi hành án huyện Cần Giờ ngày 19 tháng 7 năm 2018) [5] Về án phí và quyền kháng cáo: - Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc S ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: - Áp dụng Điều 38; điểm s kho n 1 Điều 51; Điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành b n án (trừ ngày tạm giữ từ ngày 04/5/2018 đến ngày 07/5/2018). 3. Về xử lý vật chứng: - Áp dụng điểm c kho n 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: + 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu là ma túy, có khối lượng là 0,5558g, loại Methamphetamine. Sau khi phục vụ giám định còn lại 0,5038g. (Biên b n giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Cần Giờ và Chi cục Thi hành án huyện Cần Giờ ngày 19 tháng 7 năm 2018).

- Áp dụng điểm a kho n 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c kho n 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước, tiêu hủy: + 01 điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu NOKIA 105 đã qua sử dụng. + 01 ống hút màu trắng tím. (Biên b n giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Cần Giờ và Chi cục Thi hành án huyện Cần Giờ ngày 19 tháng 7 năm 2018). 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Ngọc S ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo b n án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp b n án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người ph i thi hành án có quyền tho thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ