- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Duy L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo về xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Duy L; sửa bản án số: 74/2018/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2018/HS-PT Ngày 17-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Lâm Hồng;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Khanh và bà Trần Thị Khánh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2018/TLPT - HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Trần Duy L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2018/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Duy L - Sinh ngày 25/11/1990 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Tổ 28A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng Đ (đã chết) và bà Vương Kim T; bị cáo có vợ là chị Hoàng Thị X và có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 29/4/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai thời gian áp dụng là 03 tháng từ 29/4/2018 đến 29/7/2018. Hiện bị cáo đã chấp hành xong.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Chị Triệu Thu U - sinh ngày: 03/01/2001. Nơi đăng ký hộ khẩu: Xóm 7, xã K, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ở: Số nhà 420, đường K, tổ 26, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 29/4/2018, Trần Duy L đi sang địa chỉ số 420 đường K, thuộc tổ 26 phường P, thành phố L chơi, khi đi về thì phát hiện có tiếng chuông điện thoại phát ra từ chiếc xe máy điện dựng trước cửa phòng trọ, nhìn xung quanh không có ai nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. L liền mở cốp xe điện lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, 64 GB mầu đen. Sau đó, L đem đến nhà bạn là Nguyễn Tiến Nghĩa nói với Nghĩa là nhặt được chiếc điện thoại và nhờ Nghĩa bán hộ. Nguyễn Tiến Nghĩa đồng ý và đem chiếc điện thoại bán cho anh Bùi Văn Mạnh với giá 3.500.000đ. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại bị cáo Trần Duy L lấy trộm là của chị Triệu Thu U. Hiện không thu giữ được chiếc điện thoại.
Tại kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự ngày 19/5/2018, Hội đồng định giá tài sản thành phố L kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, 64 GB mầu đen có giá trị còn lại là 23.400.000đ (hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
Bản án số: 74/2018/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Duy L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Duy L 09 (chín) tháng tù. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/9/2018, bị cáo Trần Duy L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Duy L giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã tóm tắt ở trên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Duy L , giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Duy L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 29/4/2018, bị cáo Trần Duy L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, 64 GB mầu đen là tài sản của chị Triệu Thu U có giá trị là 23.400.000đ. Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Duy L:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Duy L đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, giá trị tài sản bị cáo trộm cắp không lớn. Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là: Tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do được bị hại chị Triệu Thu U có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng giáo dục tại xã, phường và kết quả xét nghiệm không còn chất ma túy. Vì vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng đồng thời vẫn phát huy được tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: Xét về nhân thân bị cáo là người không chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định số 148/QĐ - UBND ngày 29/4/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai thời gian áp dụng là 3 tháng từ ngày 29/4/2018 đến ngày 29/7/2018. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là phù hợp, đúng pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Duy L là không có căn cứ nên không được chấp nhận; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo về xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Duy L; sửa bản án số: 74/2018/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Duy L 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ I); - TAND cấp cao - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - CQCSĐT CA thành phố; - CQTHAHS CA thành phố; - VKSND thành phố; - TAND thành phố; - THADS thành phố; - Bị cáo; Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Lâm Hồng |