vanban.org

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của ông Hồ Hoàng V đối với bà Võ Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hồ Hoàng V được ly hôn bà Võ Thị H. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hồ Hoàng V đối với bà Võ Thị H nên giấy chứng nhận kết hôn số 57/2006 do UBND phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/5/2006 cho ông Hồ Hoàng V và bà Võ Thị H không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Hồ Hoàng V và bà Võ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của ông Hồ Hoàng V đối với bà Võ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30.5.2018
V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Thành

Ông Hà Đồng Tịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký TAND quận S, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận S tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hƣơng Thu- Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 23/4/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11/5/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Hoàng V– Sinh năm: 1983 - Địa chỉ: Tổ 3, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Võ Thị H– Sinh năm: 1982- Nơi ĐKHKTT: Tổ 3, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng- Chỗ ở hiện nay: Kiệt 196/51 đường N, phường Đ, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 12/02/2018 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Hồ Hoàng V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị H kết hôn vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống tại tổ 3 phường T, quận S, Tp Đà Nẵng. Vợ chồng ông bà sống hạnh phúc đến tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà H bỏ ông đi theo người đàn ông khác, bà H không còn quan tâm gì đến ông nữa. Mâu thuẫn của ông bà đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của ông đối với bà H không còn, do đó ông xin được ly hôn với bà Võ Thị H.

- Về quan hệ con chung: Ông xác định giữa ông và bà H có 02 con chung tên: Hồ Hoàng Thanh L- Sinh ngày 15/12/2007 và Hồ Hoàng Khánh N- Sinh ngày: 10/6/2012. Ly hôn, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Hoàng Khánh N cho đến khi con đủ 18 tuổi, giao cháu Hồ Hoàng Thanh L cho bà H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông Hồ Hoàng V xác định không có.

- Về nợ chung: Ông Hồ Hoàng V xác định không có.

* Đối với bị đơn – bà Võ Thị H mặc dù đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải cũng như triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà H đều vắng mặt nên không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy Toà án không có cơ sở để xem xét yêu cầu và nguyện vọng của bà H.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:

Về thủ tục: Đơn khởi kiện của ông Hồ Hoàng V nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Võ Thị H là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bà H vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Bà Võ Thị H và ông Hồ Hoàng V đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại UBND phường T, quận S, TP. Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số 57/2006 ngày 29/5/2006. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn vợ chồng về sống với nhau tại tổ 3 phường T, quận S, Tp Đà Nẵng. Vợ chồng ông bà sống hạnh phúc đến tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo ông V cung cấp là do bà H bỏ ông đi theo người đàn ông khác, bà H không còn quan tâm gì đến ông nữa. Mâu thuẫn của ông bà đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Tại phiên tòa hôm nay, ông V xác định không còn yêu thường bà H nữa, ông xin được ly hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Hoàng V đối với bà Võ Thị H thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa ông V và bà H lại không làm được điều này. Qua xác minh tại địa phương thì được biết hiện nay ông V và bà H đã ly thân, bà H không còn sinh sống tại tổ 3 phường T, quận S, Tp Đà Nẵng nữa. Riêng đối với bà Võ Thị H, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng bà Võ Thị H đều vắng mặt tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay. Việc này cho thấy bà Võ Thị H không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, hiện mâu thuẫn của ông V và bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông V đối với bà H là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông V xác định có 02 con chung Hồ Hoàng Thanh L- Sinh ngày 15/12/2007 và Hồ Hoàng Khánh N- Sinh ngày: 10/6/2012. Ly hôn, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Hoàng Khánh N cho đến khi con đủ 18 tuổi, giao cháu Hồ Hoàng Thanh L cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của ông Hồ Hoàng V thì thấy: Hiện tại cháu Hồ Hoàng Thanh L đang ở với bà H, cháu Hồ Hoàng Khánh N đang ở với ông Hồ Hoàng V, môi trường sinh sống và học tập của các cháu đã ổn định nên cần xem xét chấp nhận yêu cầu của ông V về việc nuôi con chung để các cháu phát triển đầy đủ và toàn diện là phù hợp với quy định tại Điều 81,82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Do mỗi người nuôi một cháu nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: ông V xác định không có. Còn bà H không có mặt nên không ghi được ý kiến về tài sản chung và nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng ông Hồ Hoàng V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của ông Hồ Hoàng V đối với bà Võ Thị H.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hồ Hoàng V được ly hôn bà Võ Thị H.

Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hồ Hoàng V đối với bà Võ Thị H nên giấy chứng nhận kết hôn số 57/2006 do UBND phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/5/2006 cho ông Hồ Hoàng V và bà Võ Thị H không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Hồ Hoàng Thanh L- Sinh ngày 15/12/2007 cho bà Võ Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con chung Hồ Hoàng Khánh N- Sinh ngày: 10/6/2012 cho ông Hồ Hoàng V được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con chung hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Hồ Hoàng V phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông V đã nộp tại biên lai thu số 8565 ngày 12/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng. Ông Hồ Hoàng V đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ