vanban.org

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Lan H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị Lan H được ly hôn anh Nguyễn Minh H1. Về con chung: Giao cho chị Võ Thị Lan H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn Anh sinh ngày 28-11-2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Lan H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST
Ngày 27-9-2018
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H1 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Anh Chuyển

Bà Nguyễn Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Chanh Ni - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 137/2018/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2018 về “Ly hôn tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Lan H sinh năm 1996, địa chỉ Khóm X, thị trấn LT, huyện D, tỉnh T (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H1 sinh năm 1992, địa chỉ Khóm X, thị trấn LT, huyện D, tỉnh T (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Võ Thị Lan H và anh Nguyễn Minh H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân kết hôn vào năm 2013 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn LT, huyện D, tỉnh T vào ngày 16-01-2014. Sau khi kết hôn anh, chị về sinh sống chung gia đình vợ tại Khóm X, thị trấn LT, huyện D, tỉnh T. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn A sinh ngày 28-11-2013. Đầu năm 2015 anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H1 không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên uống rượu, cờ bạc về nhà kiếm chuyện quậy phá, chửi bới chị H nhiều lần, anh chị đã nhiều lần H1 giải bất đồng trong cuộc sống nhưng vẫn không hàn gắn được hạnh phúc gia đình, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 4-2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh H1. Về con chung chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi Nguyễn Hoàng Tuấn A sinh ngày 28-11-2013, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Minh H1 thống nhất theo lời trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng không đồng ý ly hôn vì anh còn tH vợ và yêu cầu Tòa án H1 giải để vợ chồng đoàn tụ. Về con chung anh thống nhất theo yêu cầu của chị H đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng, về tài sản, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Anh Nguyễn Minh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Nguyễn Minh H1 đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thị trấn LT, huyện D, tỉnh T, đối chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Lan H có nội dung yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con nên có quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Minh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh H1.

. Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Lan H, thấy rằng chị H và anh H1 tự nguyện xác lập hôn nhân kết hôn năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn LT, huyện D, tỉnh T vào ngày 16-01-2014 đúng theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 xảy ra từ năm 2015 đến nay, xuất phát từ việc anh H1 thường xuyên uống rượu về gây chuyện đập phá chửi bới và đánh đập chị H nhiều lần, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, anh chị không còn sống chung từ tháng 4-2018 đến nay nhưng không có giải pháp đoàn tụ với nhau, Tòa án đã tiến hành H1 giải để anh chị đoàn tụ nhưng không thành, thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H1 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản H1 giải ngày 26-7/2018 cũng như bản tự khai thì anh thống nhất về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị H nhưng anh không đồng ý ly hôn, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Minh H1 là có căn cứ.

. Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn Anh sinh ngày 28-11-2013. Từ lúc anh chị sống ly thân đến nay chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con đảm bảo cho việc phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của con, tại bản tự khai và biên bản H1 giải ngày 26-7-2018 thì anh H1 cũng thống nhất giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng sự thỏa thuận này là đúng theo quy định pháp luật nên căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn Anh.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn theo quy định tại các Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị H vẫn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Võ Thị Lan H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Lan H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị Lan H được ly hôn anh Nguyễn Minh H1.

Về con chung: Giao cho chị Võ Thị Lan H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng Tuấn Anh sinh ngày 28-11-2013.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Lan H không yêu cầu anh Nguyễn Minh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Không bên nào được ngăn cản việc trong nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Vì lợi ích của con chưa thành niên khi cần thiết và có yêu cầu của các bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Võ Thị Lan H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0015833 ngày 03 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Án sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ