- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị L và anh D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc Phượng L và anh Nguyễn Anh D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST Ngày 15 - 6 - 2018 V/v ly hôn giữa chị L và anh D |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Nhàn Bà Bùi Thị Hạnh -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2018 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXX- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Phƣợng L, sinh năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: Số 50, Sư Vạn H, TP. P, tỉnh Gia Lai.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh D, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 9 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Phượng L trình bày:
Về hôn nhân: Chị L và anh Nguyễn Anh D kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai vào tháng 01 năm 2015, trên cơ sở tự nguyện. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D uống rượu, đánh đập chị L và con chung. Chị L đã nhiều lần khuyên can anh D nhưng anh D không thay đổi. Từ tháng 9 năm 2017, chị L và anh D đã sống ly thân cho đến nay. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn anh D.
Về nuôi con chung: Chị L và anh D có 01 con chung là Nguyễn Gia K, sinh ngày 28/10/2015. Hiện nay đang do chị chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập các tài liệu có trong hồ sơ vụ án của Thẩm phán và hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Đề nghị xử ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc Phượng L và anh Nguyễn Anh D.
- Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc Phượng L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 28/10/2015, anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L mỗi tháng 1.000.000đ.
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Phượng L phải nộp án phí ly hôn và anh Nguyễn Anh D phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Anh D là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Anh D.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Phượng L và anh Nguyễn Anh D kết hôn có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 5/2016, nguyên nhân là do anh D thường xuyên uống rượu, đánh đập chị L và con chung. Chị L và anh D đã sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay, điều đó thể hiện tình cảm giữa chị L và anh D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị L, có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Xét thấy con chung còn nhỏ, cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị L mỗi tháng 1.000.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, công nợ chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị L phải phải nộp án phí ly hôn, anh D phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc Phượng L và anh Nguyễn Anh D.
2.Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Ngọc Phượng L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 28/10/2015. Anh Nguyễn Anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L mỗi tháng 1.000.000đ ( một triệu đồng), kể từ tháng 6/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Anh D có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.
3.Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Phượng L phải nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo Biên lai số 0001501 ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Anh Nguyễn Anh D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc Phượng L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND Huyện Nam Trực.; - Chi cục THADS huyện Nam Trực; - Chi cục THADS huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. - UBND xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai. - Các đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thịnh |