- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Chị K xin ly hôn với anh T và có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2018/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 6 năm 2018 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Văn Hạnh.
2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
Thư ký phiên toà: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Không tham gia phiên toà.
Ngày 28/6/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2018/TLST–HNGĐ ngày 29/3/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mai K, có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Bình T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Cù Xuân T, vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Bình T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị Mai K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào ngày 16/5/2011 tôi đăng ký kết hôn với anh Cù Xuân T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân phường Bình T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình chung sống, vợ chồng tôi không có sự hoà hợp với nhau nên sinh ra nhiều mâu thuẫn, đến khoảng tháng 8 năm 2013 anh T đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú không để lại địa chỉ liên lạc và tôi đã làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh Cù Xuân T mất tích. Toà án đã tuyên bố anh Cù Xuân T mất tích theo quyết định số 01/2018/QĐDS-ST, ngày 24/01/2018. Nay tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên là Cù Trần Gia T, sinh ngày 23/12/2011, tôi có nguyện vọng được nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung tôi không yêu cầu.
Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với anh Cù Xuân T từ ngày Toà án ra quyết định tuyên bố mất tích cho đến nay vẫn chưa về lại địa phương nên Toà án không tiến hành lấy lời khai và tiến hành kiểm tra giao nộp chứng cứ và hoà giải với anh T được.
Tại phiên toà nguyên đơn chị Trần Thị Mai K giữ nguyên yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Mai K và anh Cù Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/5/2011 tại UBND phường Bình T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, đây là hôn nhân hợp pháp khi có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về nội dung tranh chấp:
ét yêu cầu của nguyên đơn HĐ thấy: Chị K, anh T kết hôn với nhau ngày 16/5/2011, sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không có sự hoà hợp với nhau nên sinh ra nhiều mâu thuẫn, đến khoảng tháng 8 năm 2013 anh T đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú cho đến nay vẫn không có tin tức gì. Chị K yêu cầu được ly hôn anh T cơ bản phù hợp với các biên bản xác minh và phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận.
Về con chung: ét nguyện vọng của chị Trần Thị Mai K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Cù Trần Gia T sinh ngày 23/12/2011 đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi) và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp cần chấp nhận.
Về tài sản và công n chung: Chị K không yêu cầu nên HĐ không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị Mai K chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Mai K được ly hôn với anh Cù Xuân T.
- Về con chung: Giao con chung Cù Trần Gia T sinh ngày 23/12/2011 cho chị Trần Thị Mai K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung chị K không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị K không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Mai K chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0001145, ngày 29/3/2018 tại cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKS thị xã Buôn Hồ; - UBND phường Bình Tân; - THA DS thị xã; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG ÉT Ử THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đinh Thị Hường Đinh Thị Hường |