vanban.org

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lỷ Chăn C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lỷ Thiên P, sinh ngày 12/11/2011 và Lỷ Thiên V, sinh ngày 06/10/2014.

Về án phí: Anh Lỷ Chăn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 005844 ngày 07/11/2017 qua nộp án phí. Báo cho anh C, chị N bi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của anh Lỷ Chăn C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lỷ Thiên P, sinh ngày 12/11/2011 và Lỷ Thiên V, sinh ngày 06/10/2014.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2018
V/v: “Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Giáp và Bà Lê Thị Bích Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Đại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 739/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” giữa:

- Nguyên đơn: Anh Lỷ Chăn C, sinh năm: 1988. Trú tại: Số 23/4 ấp TH, xã S T, huyện T B, tỉnh ĐN (có mặt).

- Bị đơn: Chị Chướng Lỷ N, sinh năm 1992. Trú tại: Số 28/2 khu 1, ấp T H, xã B H, huyện T B, tỉnh Đ N (có mặt).

- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Triệu Thành L- Văn phòng luật sư T B- Đoàn luật sư tỉnh Đ N (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu và lời khai trong hồ sơ, thì thấy nguyên đơn anh Lỷ Chăn C trình bày: Anh và chị Chướng Lỷ N là vợ chồng và có 02 người con là Lỷ Thiên P, sinh ngày 12/11/2011 và Lỷ Thiên V, sinh ngày 06/10/2014. Vào năm 2017 anh và chị N đã được Tòa án giải quyết ly hôn theo bản án sơ thẩm số 17/2017/HNGĐ-ST ngày 30/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện T B và bản án phúc thẩm số 27/2017/HNGĐ-PT ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ N. Theo đó Tòa án các cấp giao 02 con chung là Lỷ Thiên P và Lỷ Thiên V cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi anh và chị N ly hôn anh thấy chị N không chăm sóc tốt các con, cụ thể: Chị N làm công nhân phải đi làm từ sáng đến tối không có thời gian chăm sóc, đưa đón con; không có ai phụ giúp chị N trong việc chăm sóc các con; không ai đưa đón con đi học, phải để cho một đứa bé 10 tuổi chở đi học là quá nguy hiểm, chị N đi làm công nhân không đủ điều kiện nuôi con, làm cho các con sa sút về thể lực và trí lực. Nay anh yêu cầu Tòa án thay đổi giao 02 con là Lỷ Thiên P và Lỷ Thiên V cho anh được trực tiếp nuôi, anh không cần cô N phải cấp dưỡng nuôi con. Vì hiện nay anh đang làm rẫy do cha mẹ anh cho trên tỉnh ĐăkNông có thu nhập ổn định từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng mổi năm, đồng thời bố mẹ anh cam kết phụ giúp anh trong việc nuôi con.

Theo bản tường trình, các biên bản làm việc tại Tòa án, tại phiên Tòa bị đơn chị Chướng Lỷ N trình bày: Về quá trình chị và anh C ly hôn, con chung như anh C trình bày là đúng sự thật. Kể từ ngày chị và anh C ly hôn, chị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Về trách nhiệm của người mẹ đối với các con, chị giành mọi tình cảm cho con. Chị cố gắng hàng ngày đi làm để có thu nhập để nuôi các con và thực tế chi đang làm công nhân công ty TNHH giày dép H Đ hàng tháng thu nhập của chị rất ổn định. Các con cùng chị hiện đang ở cùng nhà bố mẹ chị, diện tích nhà bố mẹ chị ở rộng nên ở rất thoải mái, bố mẹ chị cũng giúp đỡ chị nhiều trong việc chăm sóc, đưa đón con nên chị cũng yên tâm đi làm hàng ngày. Các con chị hiện nay rất ngoan ngoãn và học hành tốt. Còn anh C Sau khi ly hôn, không có trách nhiệm đối với các con, anh C có quyền thăm nom con chung nhưng anh C không thăm nom các con, anh C không có đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi các con chung mặc dù bản án đã tuyên anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mặc khác các con của tôi đều là bé gái, nên tôi trực tiếp nuôi, chăm sóc phù hợp hơn anh C. Anh C không có công việc ổn định, sống hàng ngày phụ thuộc vào bố mẹ. Từ các lý do trên chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh C.

Tại phiên Tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh C trình bày: Thực tế việc nuôi con của chị N không đảm bảo vì Chị N làm công nhân nên phải đi làm từ sáng sớm đến chiều tối mới về không có thời gian đưa đón chăm sóc con, phải để các con cho bố mẹ và em trông nom chăm sóc. Nhưng bố mẹ chị N bận rộn không có thời gian, các em chưa có kinh nghiêm chăm sóc trẻ nhỏ. Chị N làm công nhân nên thu nhập thấp, không đủ khả năng để nuôi các con được đầy đủ. Khi giao các con cho em chị N chăm sóc có thể nguy hiểm gây ra hậu quả không thể lường trước được. Anh C là người có sức khỏe, hiện đang làm rẫy cho bố mẹ nên có thu nhập ổn định, gia đình bố mẹ anh C chỉ có 02 người con và rất có điều kiện kinh tế. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh C, giao 02 cháu Lỷ Thiên P và Lỷ Thiên V cho anh C được trực tiếp nuôi, anh C không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Chị N đang trực tiếp nuôi và chăm sóc tốt 02 con, chị N đang làm công nhân có thu nhập ổn định, chị được cha mẹ và em hỗ trợ trông nom, chăm sóc các con. Hiện nay cháu P học tập đạt kết quả tốt, bên cạnh đó, anh C không có trách nhiệm trong việc thăm nom các con và cấp dưỡng nuôi con, anh C không có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của anh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Yêu cầu của anh C là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, quy định tại khoản 3 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, căn cứ khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của anh C về việc giao con Lỷ Thiên P, sinh ngày 12/11/2011 và Lỷ Thiên V, sinh ngày 06/10/2014 cho anh được trực tiếp nuôi thì thấy:

Anh C yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con vì anh cho rằng: Chị N làm công nhân nên phải đi làm từ sáng đến tối mới về nhà nên không có thời gian chăm sóc, đưa đón con đi học; không có ai phụ giúp cô N trong việc chăm sóc các con, đưa đón con đi học, phải để cho một đứa bé 10 tuổi chở cháu P đi học là quá nguy hiểm. Qua làm việc chị N trình bày việc đưa đón cháu P đi học luôn có người lớn đưa đi và đón về, còn việc anh C trình bày để cho một đứa bé 10 tuổi chở cháu P đi học là không đúng, vì đó là do em trai chị cùng cháu P đùa giởn chở nhau đi mua quà, bánh. Qua làm việc với ông Chướng Chắn B, bà Nìm Sy M và chị Chướng Ngọc M thì ông B, bà M và chị M trình bày từ khi chị N và anh C ly hôn ông bà và chị M đều hổ trợ chị N trong việc trông coi, chăm sóc cháu P và cháu V (bút lục 78,79,80,94). Tòa án tiến hành xác minh tại Chi hội phụ nữ xã B H nơi chị N đang sinh sống thì được biết chị N cùng cháu P, cháu V hiện đang sống cùng bố mẹ là ông Chướng Chắn B và bà Nìm Sy M, nhà ông B và bà M rộng rải, hàng ngày sáng chị N đi làm chở cháu P đi học, cháu V còn nhỏ ở nhà do bà M và chị Chướng Ngọc M là em gái chị N trông coi, chăm sóc, trưa và chiều thì ông B và chị M đưa đón cháu P đi học về và chăm sóc cháu, khoảng cách từ nhà cháu P đến trường học gần chỉ khoảng 300m nên việc đưa đón cháu dể dàng. Tòa án tiến hành xác minh tại trường tiểu học Thái Bình là nơi cháu P đang học tập thì được biết cháu P chăm chỉ học tập, đạt kết quả tốt, đi học đúng giờ, sống hòa đồng với bạn bè, đạt hạnh kiểm tốt (bút lục 82, 83). Qua đó, cho thấy anh C trình bày chị N không có thời gian chăm sóc con, không có ai phụ giúp chị N đưa đón con đi học và chăm sóc con là không có căn cứ.

Xét điều kiện nuôi con của anh C và chị N thì thấy: Anh C cho rằng anh có điều kiện nuôi con tốt hơn vì cha, mẹ anh cho đất để trồng tiêu, cà phê với thu nhập từ 200.000.000đ đến 300.000.000đ mỗi năm. Nhưng anh C không chứng minh được vấn đề này bởi theo bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (các bút lúc số 71, 72 ) mà anh C cung cấp cho Tòa án thì 18.547m2 đất rẫy ở thửa đất số 04 tờ bản đồ số 22, xã ĐắkRu, huyện ĐắkRlấp, tỉnh ĐắkNông không thuộc quyền sử dụng của anh C mà vẫn thuộc quyền sử dụng của cha, mẹ của anh C là ông Lỷ Phát C và bà Trần Thị M. Anh C không đưa ra được chứng cứ nào khác chứng minh được về thu nhập của mình để đảm bảo cho việc nuôi con. Đồng thời, tại biên bản xác minh của Tòa án tại UBND xã B H (bút lục 82) thì được biết anh C không có nghề nghiệp ổn định, thường tụ tập đá gà, không tu chí làm ăn. Còn chị N tại bản án sơ thẩm số 17/2017/HNGĐ-ST ngày 30/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện T B và bản án phúc thẩm số 27/2017/HNGĐ-PT ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ N, đồng thời tại đơn xác nhận lương mà chị N cung cấp cho Tòa án thể hiện chị N đang làm công nhân cho công ty TNHH giày dép Hưng Đạt, thu nhập ổn định hàng tháng từ 6.300.000 đồng đến 6.560.000 đồng (Bút lục 77). Như vậy, chị N đã chứng minh được nguồn thu nhập ổn định của mình, đồng thời chị N được bố mẹ hổ trợ chổ ở ổn định và chăm sóc các con (bút lục 78,79,80,94). Xét trên thực tế thời gian anh C và chị N ly hôn, chị N vẫn một mình chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho cả 02 con, tại biên bản đối chất ngày 23/11/2017 cũng như tại phiên Tòa anh C thừa nhận không đến nhà chị N thăm nom các con và không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo bản án của Tòa án cho chị N (bút lục 88, 89). Qua đó, cho thấy chị N có đủ điều kiện để đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng tốt các con.

Từ những nhận định trên cho thấy, chị N chăm sóc tốt các con Lỷ thiên V và Lỷ Thiên P, hiện nay các cháu phát triển tốt, cháu P chăm chỉ học tập, đạt kết quả tốt, đi học đúng giờ, sống hòa đồng với bạn bè, đạt hạnh kiểm tốt, cháu P và cháu V là bé gái nên việc mẹ trực tiếp chăm sóc phù hợp hơn bố, do đó, căn cứ điều 84 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy không có căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con theo yêu cầu của anh C.

Về việc cấp dưỡng anh C không yêu cầu, đồng thời yêu cầu của anh C không có căn cứ nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh C phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến nhận định của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn không phù hợp với HĐXX nên không được chấp nhận.

Ý kiến nhận định của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 5; khoản 3 điều 28; khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 91; điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 84 Luật hôn nhân &gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của anh Lỷ Chăn C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lỷ Thiên P, sinh ngày 12/11/2011 và Lỷ Thiên V, sinh ngày 06/10/2014.

2. Về án phí: Anh Lỷ Chăn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 005844 ngày 07/11/2017 qua nộp án phí.

Báo cho anh C, chị N biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ