vanban.org

Bản án 17/2018/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K.

Buộc ông Tống Phước T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn K số tiền 129.000.000 đồng (một trăm hai mươi chín triệu đồng). Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp Dân sự - hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 17/2018/DS-ST
Ngày: 08/02/2018
V/v: “Tranh chấp dân sự
về Hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Hân Em

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quốc Hùng.

2. Ông Nguyễn Thành Phước.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: không tham gia.

Trong ngày 08 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2017/TLST-DS ngày 16/11/2017 về việc “Tranh chấp dân sự - Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXX-DS ngày 23/01/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Trần Văn K, sinh năm 1956 (có mặt).

Địa chỉ: tổ 22, ấp P, thị trấn P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: ông Tống Phước T, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 20/12/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày: Vào năm 2013, ông Tống Phước T đã nhiều lần đến cửa hàng xăng dầu của tôi mua dầu để phục vụ nông nghiệp với hình thức trả một phần và nợ một phần. Do ông T nợ tiền dầu nên tôi đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ, nhưng ông T cứ hứa hẹn mà không thực hiện. Đến ngày 16/11/2014 ông T có làm biên nhận nợ tôi số tiền 129.000.000 đồng và hẹn đến ngày 15/12/2014 sẽ trả đủ số tiền này. Từ khi viết biên nhận nợ cho đến nay, ông T vẫn chưa trả cho tôi khoản tiền nào.

Trước đây, tại đơn khởi kiện tôi yêu cầu ông T trả cho tôi số tiền vốn 129.000.000 đồng và lãi suất 1,5%/tháng kể từ ngày 16/11/2014 đến khi xét xử. Nay tôi xác định lại, tôi chỉ yêu cầu ông T trả cho tôi số tiền vốn 129.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Về phía bị đơn ông Tống Phước T: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông T, nhưng ông đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Tống Phước T có địa chỉ tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông T để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, ông T đều vắng mặt, không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung: Ông Trần Văn K khởi kiện yêu cầu ông Tống Phước T có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền gốc là 129.000.000 đồng. Chứng cứ nguyên đơn đưa ra là Biên nhận nợ ngày 16/11/2014, có nội dung: “Tôi tên Tống Phước T, sinh năm 1978. Hiện ngụ ấp T, xã V, T. Tôi có thiếu tiền dầu của ông Trần Văn K - Cửa hàng xăng dầu M, số tiền 129.000.00 đồng (một trăm hai mươi chín triệu đồng). Số tiền này tôi đồng ý đóng lãi suất 1,5%/tháng, tính từ ngày thiếu theo sổ sách đã đối chiếu. Đến ngày 15/12/2014 sẽ thanh toán”.

Xét thấy, hợp đồng mua bán dầu giữa ông Trần Văn K với ông Tống Phước T được giao kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Tống Phước T để tham gia hòa giải và đối chiếu nợ, nhưng ông T đều vắng mặt và cũng không có văn bản nào phản đối yêu cầu khởi kiện của ông K đối với số nợ 129.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của ông K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên buộc ông Tống Phước T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn K số tiền 129.000.000 đồng.

Về lãi suất, tại đơn khởi kiện ông K yêu cầu ông T phải trả lãi suất 1,5%/tháng kể từ ngày 16/11/2014 đến khi xét xử. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông K chỉ yêu cầu trả vốn, không yêu cầu tính lãi. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét về lãi suất.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Tống Phước T bị buộc trả số tiền nêu trên, nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông K không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 430, Điều 440 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K.

Buộc ông Tống Phước T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn K số tiền 129.000.000 đồng (một trăm hai mươi chín triệu đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Tống Phước T chịu 6.450.000 đồng (sáu triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trần Văn K không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền 4.966.500 đồng (bốn triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng), đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000770, ngày 16 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ