vanban.org

Bản án 17/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mào Văn T phạm tội" Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Mào Văn T 24(Hai mươi bốn)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2017 Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mào Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mào Văn T phạm tội" Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MƢỜNG LAY
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 17 /2017/HSST.
Ngày 28/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƢỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Thân Văn Hàm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Trung Kiên

Ông Lò Văn Hưng

Thư ký phiên tòa: ông Thiều Tất Lơ - thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.

Đại diện VKS thị xã Mường Lay tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Trung- kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2017/HSST ngày 11/9/2017 theo Quyết định đưa vụ án xa xét xử số: 17/2017/QĐXX- ST, ngày 18/9/2017 đối với bị cáo:

Họ tên: Mào Văn T Tên gọi khác: không; Sinh ngày 17/4/1986; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản M, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp không; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc Thái; Tôn giáo không; con ông Mào Văn C, sinh năm 1962 và con bà Khoàng Thị C1 sinh năm 1964; Bị cáo có vợ Lò Thị T1 (đã ly hôn), bị cáo có 01 con sinh năm 2006; Tiền án 03; Tiền sự không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2017 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã Mường Lay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: ông Mào Văn C , sinh năm 1962, trú tại Bản M xã LN, thị xã M L, tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Mào Văn M, Sinh năm 2001, trú Bản M xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên, có mặt

Người đại diện hợp pháp: Bà Mào Thị N sinh năm 1991, trú tại bản M xã LN, thị xã ML, vắng mặt.

Anh Mào Văn H, trú bản M xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

Chị Khoàng Thị H1, sinh năm 1982, trú tại bản MT, xã MT, huyện MC, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

Chị Lường Thị TH, sinh năm 1990, trú tại tổ 1 phường NL, thị xã ML, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ sáng ngày 12/7/2017 Mào Văn T đi từ nhà Mào Văn M ở bản Bản M xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên về nhà ông Mào Văn C là bố đẻ của bị cáo ở cùng bản. Về đến nhà Mào Văn T thấy kho chứa đồ của gia đình đang mở cửa, bị cáo đã lấy trộm 01 chiếc cân đồng hồ lò xo mầu xanh loại 100kg nhãn hiệu Nhơn Hòa và lấy 10 kg gạo loại CLC IR 64 đựng trong bảo tải màu đỏ. Bị cáo mang chiếc cân sang gửi nhà Mào Văn M và nói là cân của gia đình mang đi bán, còn 10 kg bị cáo mang sang nhà anh Mào Văn H mượn xe mô tô chở gạo đi bán cho chị Khoàng Thị H trú tại bản MT, xã MT huyện MC thu được 90.000đ. Sau đó bị cáo T quay về rủ Mào Văn M đi bán chiếc cân đồng hồ. Bị cáo T lái xe máy còn Mào Văn M ngồi sau ôm chiếc cân đồng hồ, hai người đi ra khu vực Nậm Cản bán cân đồng hồ cho Lường Thị T trú tại tổ 1 phường Na Lay thu được 250.000đ. Số tiền bị cáo bán cân đồng hồ và 10 kg gạo là 340.000đ bị cáo Mào Văn T đã chi tiêu hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 16/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Mường Lay kết luận: 01 cần đồng hồ lò xo loại 100Kg nhãn hiệu Nhơn Hòa có giá trị 900.000đồng; 10 kg gạo loại gạo CLC IR 64 có giá trị 130.000đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo lấy trộm là 1.030.000đồng.

Tại bản cáo trạng số: 10 ngày 11/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay đã truy tố bị cáo Mào Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản”. theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Mào Văn T về tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Mào Văn T với mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù kể từ ngày 14/7/2017. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Phần bồi thường dân sự: Chiếc cân đồng hồ lò xo loại 100kg và 10kg gạo cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Viện kiểm sát không đề nghị.

Bị cáo phải nộp án phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/ 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Mào Văn T nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại khai là đã nhận được tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bổi thường gì thêm. Chị Lường Thị TH khai là đã mua chiếc cân đồng hồ của bị cáo và không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, chị TH đã tự nguyện giao nộp cân đồng hồ cho cơ quan điều tra, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền mua cân đồng hồ. Anh Mào Văn M thừa nhận đi bán cân đồng hồ cùng bị cáo nhưng do bị cáo T nói rằng đi bán cân của gia đình nên anh M đã đi bán cân cùng bị cáo.

Anh Mào Văn H và chị Khoàng Thị H1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Mường Lay, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Mào Văn T tại phiên tòa hôm nay đã thừa nhận ngày 12/7/2017 bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc cân đồng hồ lò xo mầu xanh loại 100kg nhãn hiệu Nhơn Hòa và 10 kg gạo loại CLC IR64. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 1.030.000đ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tuy giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt chưa đủ 2.000.000đ nhưng bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. (Mục 7.3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP, ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự). Do vậy tình tiết đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích là tình tiết định tội đối với bị cáo. Từ những phân tích ở trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luật hành vi của bị cáo Mào Văn T phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bản cáo trạng số: 10 ngày 11/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay truy tố bị cáo Mào Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Mào Văn T có nhân thân xấu, bị cáo có ba tiền án chưa được xóa án tích cụ thể như sau: Ngày 26/4/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và tội lạm dụng tín tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 26/10/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà xử phạt 36 tháng tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Ngày 30/8/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 12/7/2017 có hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này, Bị cáo là người lười lao động nhưng muốn có tiền chi tiêu nên đã trộm cắp tài sản bán lấy tiền để chi tiêu cho bản thân, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; “tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.

Về hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng Điều 33 BLHS là hình phạt tù có thời hạn để bị cáo lao động cải tạo trong trại giam, sau này ra trại trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, tuy nhiên bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nào khác, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại ông Mào Văn C đã nhận lại 01 cần đồng hồ lò xo loại 100Kg nhãn hiệu Nhơn Hòa; 10 kg gạo loại gạo CLC IR 64, ông Mào Văn C không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chị Khoàng Thị H1 không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 90.000đ mà chi đã bỏ ra để mua 10kg gạo. Chị TH cũng không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 250.000đ mà chị đã mua chiếc cân đồng hồ. Vì vậy đối với số tiền mà bị cáo có được do bán gạo và bán cân đồng hồ là 340.000đ cần thu sung quỹ Nhà nước.

Trong vụ án này còn có những vấn đề liên quan:

Đối với anh Mào Văn H là người cho bị cáo mượn xe mô tô đi tiêu thu tài sản trộm cắp, hành vi của anh Mào Văn M là người đi cùng bị cáo T tiêu thụ tài sản nhưng anh H và anh M đều không biết là tài sản bị cáo trộm cắp mà có, nên HĐXX không đề cập xử lý.

Đới với Khoàng Thị H1 là người mua 10kg gạo và Lường Thị TH là người mua 01 cân đồng hồ của bị cáo T nhưng cả hai người không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp nên HĐXX không đề cập xử lý hành vi của hai người này.

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/ 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Mào Văn T phạm tội" Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt bị cáo Mào Văn T 24(Hai mươi bốn)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2017

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 thu của bị cáo số tiền 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

3.Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 231 và 234 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2017). Người bị hai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần có liên quan trực tiếp đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ