vanban.org

Bản án 17/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Hoàng Ngọc T

Phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng: khoản 1 điều 194 ; điểm p - khoản 1- điều 46 – Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc T, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hìn…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hoàng Ngọc T
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/ 2017/ HSST
Ngày: 26/ 9/ 2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hải

- Các hội thẩm nhân dân:

Bà: Bùi Thị Thu Huyền.

Bà: Hoàng Thị Tụ.

- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà:

Bà Bế Minh Hằng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017. Tại nhà văn hóa khu 10, Thị trấn T, huyện H. Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/ 2017/ HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Ngọc T, sinh năm: 1977.

- Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. -Trình độ văn hóa: Lớp 9/12;

Nghề nghiệp: không;

- Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không;

- Họ và tên bố: Hoàng Ngọc T - sinh năm 1939.

- Họ và tên mẹ: Lê Thị N - sinh năm 1951.

- Gia đình bị cáo có 09 anh chị em bị cáo là con thứ bẩy;

- Vợ: Đinh Hồng V– Sinh năm 1983 (đã ly hôn);

- Con: Chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Chưa;

- Nhân thân: năm 2009 bị Tòa án nhân dân thị xã U (nay là thành phố U), tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 18/02/2012 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương;

- Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/7/2017, hiện đang bị tạm giam.

Có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Bị cáo Hoàng Ngọc T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/7/2017, Công an huyện H đang làm nhiệm vụ tại khu vực nhà nghỉ 269 thuộc tổ 1, khu 2, thị trấn T, huyện H, phát hiện bắt quả tang Hoàng Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Thu trong túi quần sau bên phải của T 01 túi nilon màu trắng, kích thước 4cmx6cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 4, vỏ màu đen, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 479/GĐMT, ngày 18/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi thu giữ của Hoàng Ngọc T gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 1,18g (một phẩy mười tám gam).

Quá trình điều tra Hoàng Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên: Nguồn gốc số ma túy bị Công an thu giữ, T khai, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 T đi đến nhà Nguyễn Thành L ở tổ 4, khu 5, thị trấn T, huyện H để đòi nợ, tại đây Toàn gặp L, G và T. T đòi nợ thì L bảo T ở nhà chờ L đi vay tiền về trả. Sau khi L đi được một lúc thì L gọi điện bảo T đến phòng 112, nhà nghỉ 269 thuộc tổ 1, khu 2, thị trấn T, huyện H để trả tiền, T đến nơi thì L đưa cho T tờ tiền mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) được vo tròn bên trong có 01 túi nilon chứa các tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp dạng đá nhờ T cầm túi nilon về nhà L để đưa cho G và T sẽ sử dụng chung túi ma túy với G. Khi T đi ra khỏi phòng 112 của nhà nghỉ thì T cất túi ma túy vào túi quần phía sau bên phải đang mặc trên người rồi đi xuống tầng 1 của nhà nghỉ 269 thì bị Công an huyện H bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Quyết định truy tố số 15/KSĐT – HS ngày 25/ 8/ 2017 của VKSND huyện H truy tố Hoàng Ngọc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” – quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46- Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Toàn từ 24 đến 27 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với những vật chứng thu giữ được.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/7/2017, tại nhà nghỉ 269 thuộc tổ 1, khu 2, thị trấn T, huyện H, Hoàng Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,18g (một phẩy mười tám gam) chất ma túy là loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an huyện H bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Hoàng Ngọc T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” – quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Việc truy tố của VKSND huyện H là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xem xét tình tiết giảm nhẹ của bị cáo T thấy rằng bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 - BLHS.

Xét thấy hành vi của bị cáo T là nghiêm trọng, hành vi này đang bị pháp luật nghiêm cấm và xử phạt rất nghiêm khắc, việc tµng tr÷, mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý đã làm huỷ hoại sức khoẻ của con người là mầm mống để phát sinh nhiều loại tội phạm khác, mặc dù bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để hoàn lương mà vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật nên cần thiết phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật và phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội 1 thời gian thì mới đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Do bị cáo T không có nghề nghiệp, kh«ng cã thu nhập và tài sản gì nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có đối tượng Nguyễn Thành L theo T khai là túi ma túy bị Công an thu giữ là của L, L nhờ cầm về nhà L để đưa cho G. Quá trình điều tra L không thừa nhận, cũng như các tài liệu có trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để kết luận số ma túy Công an thu giữ của T là do L đưa cho T, nên không đề cập.

Về tang vật của vụ án: Đối với số ma tuý được hoàn lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc điện thoại và 50.000đ thu của T đây là tài sản riêng của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho T.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Hoàng Ngọc T

Phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: khoản 1 điều 194 ; điểm p - khoản 1- điều 46 – Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hoàng Ngọc T 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/ 7/ 2017.

Căn cứ: khoản 1 điều 41- Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 76 – Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 479/GĐMT ngày 18/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, trên phong bì có ghi chữ: Mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ Hoàng Ngọc T – TTMT, QĐTC số 69 ngày 17/7/2017, phong bì do Vũ Thanh Tuyển ký niêm phong.

Trả lại cho Hoàng Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 vỏ màu đen viền bạc, vỏ và mà hình bị vỡ và số tiền 50.000đ nhưng tạm giữ lại số tiền 50.000đ để đảm bảo cho việc thi hành án ( Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao tang vật giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện H ngày 06/ 9/2017).

Căn cứ điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Buộc Hoàng Ngọc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ