vanban.org

Bản án 17/2017/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH ngày 27.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh T. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Th số tiền hụi là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH ngày 27.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 17/2017/DS-ST
Ngày 17 tháng 02 năm 2017
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông N V n M n . 2. Ông Hu nh T n hoa. Th ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà N uyễn Thị Diễm Thúy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 17 tháng 02 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 3272016/TLST-DS ngày 19.10.2016 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2016/QĐST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2016, giữa các đương sự:

1. N uyên đơn: Bà N uyễn Thị Anh T, sinh năm 1982. (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A.

2. Bị đơn: Ông Bùi V n H, sinh năm 1966. (Vắng mặt).

Bà N uyễn Thị T, sinh năm 1969. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Cùng ngụ ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh A.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 06.6.2016 và các lời khai nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Anh T trình bày do quen biết nên vào ngày 05.10.2013 bà làm chủ hụi 2.000.000đ/tháng và bà có cho bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn Htham gia 02 phần, gồm 24 hụi viên, trong đó có bà T và ông H (do bà T và ông H là vợ cH nên trên giấy hụi 02 phần chỉ lấy tên bà T), đến tháng 12.2013 bà T hốt 01 phần hụi đầu tiên lần này bà T hốt được 34.450.000đ (chưa trừ huê H), lần hốt này bà T đóng hụi chết cho bà đầy đủ, đến tháng 6.2014 bà T hốt luôn phần hụi còn lại, lần này bà T, ông H hốt được 38.800.000đ (Ba mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng) (đã trừ huê H), lần hốt hụi này bà T, ông H chầu hụi chết cho bà đến ngày 05.8.2014 rồi không tiếp tục chầu nữa, tính đến khi hụi mãn là ngày 05.9.2015 bà T, ông H phải chầu hụi chết gồm 02 phần đã hốt cho bà là 52.000.000đ (Năm mươi hai triệu đồng). Sau đó bà có yêu cầu nhiều lần và bà T, ông H có trả được 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng). Hiện tại bà T, ông H còn nợ bà 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng). Nay bà yêu cầu bà T, ông H trả cho bà 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Đồng bị đơn bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H dù đã được gửi thông báo thụ lý vụ án, Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà vắng mặt không rõ lý do nên không thể ghi nhận ý kiến của bà T, ông H.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay bà T, ông H vẫn vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông H là đúng theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Anh T khởi kiện đồng bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H. Bà T, ông H có nơi cư ngụ tại ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều các Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sử đổi, bổ sung năm 2015.

Tại phiên Tòa bà Th trình bày và yêu cầu bà T, ông H có trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng); giữa bà Th và bà T, ông H có ký kết xác nhận nợ hụi rỏ ràng ở từng thời điểm cụ thể. Về hình thức, nội dung của hợp đồng phù hợp với Điều 479 Bộ Luật dân sự. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, do đến kỳ hạn chầu hụi chết mà bà T, ông H không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà Th là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh T. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Th số tiền hụi là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng).

- Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụn :

- Các Điều 401, 402 và Điều 479 Bộ luật dân sự.

- Các Điều 26, 35, 146, 147, 217, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

- Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH ngày 27.02.2009 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh T.

- Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Th số tiền hụi là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng).

Về án phí: Bà bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H liên đới phải chịu 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Anh T không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà Th số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng) theo biên lai T số 0004637 ngày 18.10.2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho bên được thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Thị Anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bà bà Nguyễn Thị T, ông Bùi Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ