vanban.org

Bản án 1699/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Kim B được ly hôn với ông Trần Văn P.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Kim B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ: Trần Nguyễn Ánh D - sinh ngày 12/01/2019 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Kim B được ly hôn với ông Trần Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1699/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

2. Bà Bùi Thị Hòa Bình

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh – Cán bộ Tòa án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 31/8/2023 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 0402/2022/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim B

Địa chỉ: 25 đường X, Thành phố D, tỉnh Y.

Bị đơn: Ông Trần Văn P

Địa chỉ: STT 153 (tổ 10) đường N, Phường 13, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 17/02/2023, tại Bản tự khai và các biên bản hoà giải, nguyên đơn là bà Nguyễn Kim B trình bày:

Bà và ông Trần Văn P tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 19/02/2019 tại Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Đ, tỉnh L theo giấy chứng nhận kết hôn số 16, trích lục kết hôn số 550/TLKH-BS.

Quá trình sống chung vợ chồng hạnh phúc trong thời gian đầu. Sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do hai bên bất đồng quan điểm trong sinh hoạt cuộc sống vợ chồng và gia đình, dẫn đến thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể hàn gắn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà B và ông P có 01 con chung là:

Trần Nguyễn Ánh D – sinh ngày 12/01/2019

Bà B yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Trần Nguyễn Ánh D – sinh ngày 12/01/2019.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà B đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa giải quyết.

Bị đơn ông Trần Văn P trình bày:

Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông P. Ông P đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn đề ngày 01/8/2023 xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông P.

Bị đơn vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Được thể hiện đầy đủ trong bài phát biểu số: 367 /PB-VKS-HNGĐ ngày 31/8/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Điều 56, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Kim B.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà B, giao trẻ Trần Nguyễn Ánh D – sinh ngày 12/01/2019 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, bà B đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa giải quyết

Về án phí: Nguyên đơn bà B phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ giữa bà Nguyễn Kim B và ông Trần Văn P là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do ông Phú cư trú tại quận B nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

2. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã thực hiện thủ tục triệu tập xét xử hợp lệ đối với bị đơn hai lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Về phía nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 01/8/2023. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ kiện vắng mặt các đương sự.

3. Về yêu cầu của các đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Bản sao Trích lục giấy chứng nhận kết hôn số 550/TLKH-BS, ngày 19/02/2019 của Ủy ban nhân Phường 5, thành phố Đ, tỉnh L, thể hiện hôn nhân giữa bà B và ông P là hợp pháp.

Nay nguyện vọng của bà Nguyễn Kim B muốn ly hôn với ông Trần Văn P vì lý do tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn lại hạnh phúc gia đình.

Hội đồng xét xử xét,

Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình, trong đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa bà B và ông P trong thời gian đầu hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do giữa hai người bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, tính cách không phù hợp, nên dẫn đến thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài. Hiện nay bà B không còn tình cảm với ông P. Vì vậy, nguyện vọng của bà B xin được ly hôn với ông P là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào Bản sao Trích lục khai sinh số 56/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Đ, tỉnh L cấp ngày 20/02/2019 cho Trần Nguyễn Ánh D, sinh ngày 12/01/2019 thể hiện cha là ông Trần Văn P và mẹ là bà Nguyễn Kim B, như vậy có cơ sở xác định giữa bà B và ông P có một con chung là trẻ Trần Nguyễn Ánh D, sinh ngày 12/01/2019. Bà B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Trần Nguyễn Ánh D.

Hội đồng xét xử xét: Hiện nay trẻ Trần Nguyễn Ánh D đang học tập và sinh sống cùng mẹ là bà Nguyễn Kim B tại 25 Đường X, Thành phố D, tỉnh Y, cháu D đều sinh hoạt và ăn uống phát triển tâm sinh lý rất tốt nên yêu cầu của bà B xin được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà B đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con, việc yêu cầu này của bà B là đúng theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị đơn: Ông Trần Văn P vắng mặt không lý do, mặc dù tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên tòa. Vì vậy, phía bị đơn đã tự tước đi quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa, để làm cơ sở cho Hội đồng xét xử xem xét công khai chứng cứ tại phiên tòa.

Về án phí DSST: 300.000 đồng, bà B phải đóng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Kim B được ly hôn với ông Trần Văn P.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Kim B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ:

Trần Nguyễn Ánh D - sinh ngày 12/01/2019

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà B đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí DSST: là 300.000 đồng, bà B phải đóng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0019572 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B. Bà B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ