- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Tạ Thạch T như sau:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1698/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2020 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhanh.
Ông Nguyễn Thành Thông.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4670/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tạ Thạch T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số 196 Đường N, Phường N, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Lahmiz M, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Finland.
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn bà Tạ Thạch T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lahmiz M đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83 ngày 27/5/2016 do Ủy ban nhân dân quận V, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn, bà và ông Lahmiz M chung sống với nhau trong vòng 01 tháng, sau đó ông Lahmiz M trở về Phần Lan để làm việc. Ông Lahmiz M đã làm hồ sơ bảo lãnh bà qua Phần Lan để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được Phần Lan chấp nhận và trả hồ sơ, tuy nhiên bà và ông Lahmiz M vẫn liên lạc với nhau thường xuyên. Đến tháng 5/2017, bà không thể liên lạc được với ông Lahmiz M, bà đã chờ đợi ông Lahmiz M liên lạc với bà nhưng đến nay ông Lahmiz M vẫn không hồi âm. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lahmiz M.
Về con chung: Bà và ông Lahmiz M không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Lahmiz M không có tài sản chung, không có nợ chung. Đối với bị đơn ông Lahmiz M hiện đang cư trú tại Phần Lan, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cung cấp lời khai của ông Lahmiz M về việc bà Tạ Thạch T yêu cầu ly hôn với ông Lahmiz M, nhưng ông Lahmiz M không cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Tạ Thạch T có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo về ngày mở phiên tòa đối với ông Lahmiz M nhưng ông Lahmiz M vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Bà Tạ Thạch T và ông Lahmiz M từ lâu đã không còn chung sống, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Thạch T và ông Lahmiz M hiện nay không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tạ Thạch T. Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung bà Tạ Thạch T khai không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 04/4/2018, bà Tạ Thạch T đang cư trú tại Việt Nam có đơn xin ly hôn với ông Lahmiz M hiện đang cư trú tại Phần Lan. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Tạ Thạch T có đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà Tạ Thạch T. Ngày 29/10/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 795/UTTPDS-TA30 về việc tương trợ tư pháp gửi Bộ Tư pháp để ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông Lahmiz M đang cư trú tại Phần Lan. Ngày 03/8/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 641/TATP-TGĐVNCTN về việc thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Phần Lan để niêm yết Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử sơ thẩm tại trụ sở Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Phần Lan và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Phần Lan trong thời hạn 01 (Một) tháng đối với ông Lahmiz M.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, và Điểm b Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Tạ Thạch T và ông Lahmiz M có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thu thập được từ Bản tự khai của bà Tạ Thạch T, có cơ sở để xác định rằng mục đích của hôn nhân giữa bà Tạ Thạch T và ông Lahmiz M đã không đạt được. Về phía ông Lahmiz M, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài hợp lệ, nhưng ông Lahmiz M không có văn bản trả lời hay đơn đề nghị xét xử vắng mặt, điều này chứng tỏ ông Lahmiz M không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Do đó, việc bà Tạ Thạch T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết cho bà Tạ Thạch T được ly hôn đối với ông Lahmiz M là có căn cứ để chấp nhận.
Về con chung: Bà Tạ Thạch T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tạ Thạch T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tạ Thạch T là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Tạ Thạch T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273, Điểm b Khoản 5 Điều 477, và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Tạ Thạch T như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thạch T được ly hôn với ông Lahmiz M. Quan hệ hôn nhân giữa bà Tạ Thạch T và ông Lahmiz M chấm dứt, Giấy chứng nhận kết hôn số 83 ngày 27/5/2016 do Ủy ban nhân dân quận V, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Bà Tạ Thạch T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tạ Thạch T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tạ Thạch T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Tạ Thạch T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0044278 ngày 18/4/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Tạ Thạch T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 5. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Tạ Thạch T vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Tạ Thạch T là 15 ngày, kể từ ngày bà Tạ Thạch T được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Lahmiz M không có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND quận V, TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Hạnh |