- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "D - T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Tuyết D đối với ông Võ Anh T. Bà Huỳnh Thị Tuyết D được ly hôn với ông Võ Anh T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Tuyết D đối với ông Võ Anh T chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2026/HNGĐ-ST Ngày: 09-7-2026 V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Thị Thanh Giang
2. Ông Đỗ Thành Lưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Nguyễn Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên
Vào ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 383/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2026/QĐXXST ngày 05 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 318/2026/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2026 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Bà Huỳnh Thị Tuyết D, sinh năm 1983; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Số A, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Ông Võ Anh T, sinh năm 1983; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Số A, khu phố P, phường S, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn trình bày:
Bà D và ông Võ Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2012. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu; sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung và đã sống ly thân. Bà D đã tìm nhiều cách để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ năm 2018. Do không còn tình cảm với ông T nên bà D yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà D được ly hôn với ông Võ Anh T, bà D không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết D yêu cầu nuôi 01 con chung tên Võ Huỳnh Thanh T1, sinh năm 2013, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ A Trực vắng mặt, không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật HN&GĐ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Tuyết D đối với ông Võ Anh T. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết D nuôi 01 con chung tên Võ Huỳnh Thanh T1, sinh năm 2013, không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà D phải chịu là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Tuyết D có yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Võ A Trực vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông T là phù hợp với Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Võ Anh T có nơi cư trú tại khu phố P, phường S, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long theo quy định tại Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Tuyết D và ông Võ Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là phường S, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2012 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T. Tại biên bản xác minh ngày 03/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, ông Võ Văn K (cha ruột của ông T) trình bày: Hai vợ chồng đám cưới trên cơ sở tự nguyện do tự quen biết, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn hiểu nhau và sống đã ly thân từ đầu năm 2018. Gia đình có khuyên nhủ nhưng không thể hàn gắn. Thông báo thụ lý và các thông báo mời hòa giải của Tòa tôi là người nhận thay và đều có thông báo cho ông T biết, ông T không có ý kiến yêu cầu gì. Quá trình giải quyết vụ án, bà D cương quyết yêu cầu ly hôn và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Ông Võ Anh T vắng mặt trong các phiên hòa giải và tại phiên tòa không có ý kiến trình bày. Điều này cho thấy bà D và ông T đã từ bỏ mối quan hệ hôn nhân này, không thể hiện mong muốn được đoàn tụ vợ chồng, việc hàn gắn tình cảm không có kết quả, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà D và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D đối với ông T là phù hợp quy định pháp luật. Bà D tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên ghi nhận. Ông T vắng mặt không có lời trình bày về cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên không xem xét.
Về con chung: Bà D và ông T có 01 chung 01 con chung tên Võ Huỳnh Thanh T1, sinh ngày 27/7/2013. Hiện Võ Huỳnh Thanh T1 đang sống với bà D. Bà Huỳnh Thị Tuyết D yêu cầu nuôi Võ Huỳnh Thanh T1. Xét việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt về điều kiện vật chất và tinh thần, sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến con ngày 18/5/2026, Võ Huỳnh Thanh T1 trình bày mong muốn được sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Bản thân bà Huỳnh Thị Tuyết D có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi con. Để đảm bảo việc phát triển bình thường về vật chất, tâm lý và tinh thần cũng như ổn định về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cho con chung nên giao Võ Huỳnh Thanh T1, sinh ngày 27/7/2013 cho bà Huỳnh Thị Tuyết D nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Huỳnh Thị Tuyết D tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà D khai không có, ông T vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
Về nợ chung: Bà D khai không có, ông T vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà D phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Tuyết D đối với ông Võ Anh T. Bà Huỳnh Thị Tuyết D được ly hôn với ông Võ Anh T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Tuyết D đối với ông Võ Anh T chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà Huỳnh Thị Tuyết D, không yêu cầu cấp dưỡng cho vợ chồng sau khi ly hôn. Ông Võ Anh T vắng mặt không có lời trình bày về cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên không xem xét.
2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết D nuôi 01 con chung tên Võ Huỳnh Thanh T1, sinh ngày 27/7/2013. Ghi nhận bà Huỳnh Thị Tuyết D tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Võ Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết D khai không có, ông Võ Anh T vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
4. Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết D khai không có, ông Võ Anh T vắng mặt không có lời trình bày nên không xét đến.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Tuyết D phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0007689 ngày 22/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Huỳnh Thị Tuyết D đã nộp xong án phí.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long - VKSND Khu vực 5-Vĩnh Long; - UBND phường Sơn Đông; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Hiền |