vanban.org

Bản án 169/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/09/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thanh T. Giữ nguyên

Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát như sau: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thanh T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Thanh T - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thanh T. Giữ nguyên
  • Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HS-PT
Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng Bà Trần Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án

nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên

toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử

phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 168/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Thị Thanh T do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1988 tại tỉnh Hà Tĩnh; đăng ký thường trú:

thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: tổ G, khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và bà Phan Thị M (đã chết); chồng tên Mai Trọng P (đã ly hôn) và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 42 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2021, Bùi Thị Thanh T đến Điện lực B làm thủ tục mua

điện cho nhà xưởng của T ở tổ E, ấp (nay là khu phố) Tân Lập, xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Theo quy trình cấp điện, T đến bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Điện lực B nộp giấy tờ bản chính và bản phô tô gồm: chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ quyền sở hữu, quản lý của nhà xưởng. Nhân viên Điện lực B kiểm tra đối chiếu bản chính với bản phô tô, và trả lại bản chính cho T, kèm theo 01 mẫu đơn đề nghị cấp điện để T viết, ký tên nộp lại. Sau đó, có nhân viên điện lực liên hệ với T đến khảo sát trực tiếp địa điểm mua điện, báo giá chi phí thi công và hẹn ngày thi công. Khoảng 10 ngày sau, nhân viên điện lực tiến hành thi công lắp điện và đưa cho T ký biên bản treo tháo thiết bị, hợp đồng mua bán điện. Sau khi nhà xưởng của T được cấp điện, có một người đàn ông mặc trang phục ngành điện lực màu vàng, đeo bảng tên Nguyễn Đức N (chưa rõ lai lịch) đến gặp T giới thiệu là nhân viên Điện lực B chào bán dây điện và xin số điện thoại với T để liên lạc.

Khoảng cuối tháng 01/2021, N sử dụng 03 số điện thoại: 0374768053,

0374937353 và 0787679660 liên lạc với T qua 02 số điện thoại 0986.337.165 và 0969493590. N nói với T có thể giúp làm hồ sơ mua điện trong Khu dân cư An Tây (còn gọi là Khu dân cư Ba Tháng H, tổ A, khu phố K, phường A, thành phố B), nếu ai có nhu cầu mua điện thì T giới thiệu cho N làm hồ sơ, N sẽ cho T tiền công giới thiệu, T đồng ý.

Sau đó, T nói với Nguyễn Văn H1, một người đàn ông tên H2 (chưa rõ lai

lịch) đều làm thầu xây dựng, một người đàn ông tên H3 (chưa rõ lai lịch) làm môi giới bất động sản và một số những hộ dân trong Khu dân cư Ba Tháng H là T có thể giúp làm hồ sơ mua điện tại Điện lực B. Từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2022, có 42 hộ dân trong Khu dân cư Ba Tháng H liên hệ đưa tiền Nhờ T làm hồ sơ mua điện và đã được Điện lực Bến Cát cấp điện, gồm:

Số tiền hộ dân Số

Năm

đã nộp cho Ngày cấp

Họ và tên

Đăng ký thường trú

thứ tự

sinh

Tâm để làm hồ

điện

sơ mua điện

phường An Điền, thành phố

01 Phan Đình Phước 1978

2.000.000 đồng 07/4/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

phường An Điền, thành phố

02

Lê Thị Tâm

1985

1.500.000 đồng 13/4/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

03 Nguyễn Thị Hạnh 1988

2.000.000 đồng 14/4/2021

phườngAn Điền, thành phố

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

xã Xuân Thọ, huyện Triệu

04

Lê Văn Trung 1990

3.000.000 đồng 06/11/2021

Sơn, tỉnh Thanh Hóa

xã Hồng Lộc, huyện Lộc Hà,

05 Mai Trọng Phương 1983

Không đưa tiền 07/12/2021

tỉnh Hà Tĩnh

xã Nga Điền, huyện Nga

06 Nguyễn Văn Nhật 1989

2.500.000 đồng 25/11/2021

Sơn, tỉnh Thanh Hóa

phường Tân Đông Hiệp,

07 Đặng Xuân Phong 1962 thành phố Dĩ An, tỉnh Bình 12.000.000 đồng 06/12/2021

Dương

xã Ea Ô, huyện Eakar, tỉnh

08

Bùi Thị Hồng 1962

7.000.000 đồng 29/12/2021

Đắk Lắk

xã Tân Hòa, huyện Gò Công

09 Trần Quang Minh 1976

8.000.000 đồng 09/7/2021

Đông, tỉnh Tiền Giang

xã Thuần Thiện, huyện Can

10

Lê Sỹ Tài

1987

10.000.000 đồng 16/01/2021

Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

phường An Điền, thành phố

11

Trịnh Tiến Sĩ 1971

1.000.000 đồng 15/02/2022

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

phường An Điền, thành phố

12 Nguyễn Văn Hà 1981

1.000.000 đồng 25/11/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Thị trấn Vạn Hà, huyện

13

Ngọ Thị Thảo 1964

13.000.000 đồng 30/3/2022

Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc,

14 Nguyễn Thành Hải 1997

5.000.000 đồng 31/3/2022

tỉnh Quảng Nam

phường An Điền, thành phố

15 Trần Văn Thắng 1976

2.500.000 đồng 22/4/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức

16 Văn Xuân Quyên 1975

7.000.000 đồng 13/4/2021

Hòa, tỉnh Long An

xã Nga Phú, huyện Nga Sơn,

17

Phạm Thị Mai 1990

12.000.000 đồng 25/11/2021

tỉnh Thanh Hóa

xã Thọ Tiến, huyện Triệu

18

Lê Văn Phước 1990

8.000.000 đồng 29/10/2021

Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Dương Quang

xã Định Thành, huyện Thoại

19

1987

1.000.000 đồng 11/11/2021

Phước

Sơn, tỉnh An Giang

Nguyễn Ngọc

khóm 10, phường 1, thành

20

1966

8.000.000 đồng 31/10/2021

Quyến

phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

xã An Bình, huyện Lạc

21

Quách Thị Dịu 1984

7.000.000 đồng 25/6/2021

Thủy, tỉnh Hòa Bình

phường An Điền, thành phố

22

Bùi Văn Tú

1984

2.500.000 đồng 17/12/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

xã Xuân Tín, huyện Thọ

23

Lê Trọng Công 1981

1.500.000 đồng 16/01/2022

Xuân, tỉnh Thanh Hóa

xã Thuận Sơn, huyện Đô

24 Nguyễn Văn Ngà 1986

1.000.000 đồng 15/6/2021

Lương, tỉnh Nghệ An

phường An Điền, thành phố

25

Lê Thị Nguyệt 1984

5.000.000 đồng 29/12/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

xã Giao Xuân, huyện Giao

26

Trần Văn Đình 1976

2.000.000 đồng 11/01/2022

Thủy, tỉnh Nam Định

xã Cát Sơn, huyện Tĩnh Gia,

27

Lê Thị Hường 1993

10.000.000 đồng 11/01/2022

tỉnh Thanh Hóa

phường Hiệp Tân, quận Tân

28 Phan Văn Trung 1973 Phú, Thành phố Hồ Chí

1.000.000 đồng 02/6/2021

Minh

Nguyễn Ngọc

xã Đức Lý, huyện Lý Nhân,

29

1986

10.000.000 đồng 17/01/2022

Quỳnh

tỉnh Hà Nam

phường An Điền, thành phố

30

Vũ Đức Cường 1988

1.500.000 đồng 07/12/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

xóm 2, xã Hồng Lộc, huyện

31

Trần Văn Phú 1985

7.000.000 đồng 13/4/2021

Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh

32

Trần Thị Thơm 1984

5.000.000 đồng 31/3/2022

xã Nam Thượng, huyện

Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

xã Phú An, thành phố Bến

33 Nguyễn Xuân Hiệp 1980

10.000.000 đồng 11/11/2021

Cát, tỉnh Bình Dương

xã Thanh Giang, huyện

34 Mạnh Xuân Quang 1980 Thanh Chương, tỉnh Nghệ 1.000.000 đồng 31/3/2022

An

xã Vũ Công, huyện Kiến

35 Nguyễn Thị Vui 1968

14.000.000 đồng 31/3/2022

Xương, tỉnh Thái Bình

phường An Điền, thành phố

36

Phạm Thị Lý 1989

8.000.000 đồng 01/6/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

xã Xuân Thọ, huyện Triệu

37

Lê Đức Kiên 1990

2.000.000 đồng 11/01/2022

Sơn, tỉnh Thanh Hóa

xã Hưng Thái, huyện Hưng

38

Cao Văn Sơn 1982

2.000.000 đồng 18/01/2022

Nguyên, tỉnh Nghệ An

xã Xuân Bảo, huyện Cẩm

39 Trần Thị Tú Uyên 1984

1.000.000 đồng 15/6/2021

Mỹ, tỉnh Đồng Nai

xã Diễn Kỳ, huyện Diễn

40 Nguyễn Văn Xuân 1992

8.000.000 đồng 21/6/2021

Châu, tỉnh Nghệ An

phường An Điền, thành phố

41 Nguyễn Văn Hà 1981

1.000.000 đồng 14/6/2021

Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Nguyễn Đức

xã Tuần Lộc, huyện Can

42

1983

4.000.000 đồng 11/11/2022

Thành

Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

Cách thức T và đối tượng N làm hồ sơ cấp điện như sau: hộ dân có nhu

cầu mua điện liên hệ với T, T gọi điện thoại cho N để hỏi thu phí làm hồ sơ bao nhiêu. Tùy từng thời điểm khác nhau, N đưa ra giá từ 1.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng/hồ sơ. T thông báo lại với hộ dân, nếu ai đồng ý thì cung cấp giấy tờ: chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, hợp đồng ủy quyền hoặc vi bằng mua bán thửa đất (đất trong Khu dân cư Ba Tháng H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và số tiền T yêu cầu. T phô tô giấy tờ đưa cho N cùng số tiền hộ dân đã nộp, N cho T từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng/hồ sơ. Khoảng từ 10 đến 15 ngày sau kể từ khi nhận tiền, N đưa cho T 02 loại tài liệu: “Đơn xác nhận nhà, đất” chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền và “Phiếu đề nghị cấp điện” để T đưa cho người mua điện điền thông tin cá nhân, ký tên. T đưa 02 mẫu tài liệu cho người mua điện viết, ký tên hoặc T giả chữ ký, viết tên người mua điện, rồi đưa lại cho N 02 mẫu tài liệu này. Khoảng 10 ngày sau kể từ ngày nhận lại các mẫu tài liệu, N gửi ngược lại cho T hồ sơ mua điện gồm: Đơn xác nhận nhà, đất đã có xác nhận của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường A với nội dung là nhà ở hợp pháp, không có tranh chấp, đủ điều kiện cấp điện; Đơn xin cấp điện; bản phô tô chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy tờ đất để T trực tiếp đem nộp tại Điện lực B. Sau khi nhận hồ sơ xin cấp điện do T nộp, nhân viên điện lực đến nhà các hộ dân thi công lắp điện, người mua điện ký biên bản treo tháo thiết bị, hợp đồng mua bán điện. Ngoài ra, N còn yêu cầu T trực tiếp viết ý kiến xác nhận của UBND phường A trên 08 Đơn xác nhận nhà, đất. T đã nhận tổng số tiền 211.000.000 đồng của 42 hộ dân để nhờ T liên hệ làm hồ sơ mua điện, Tâm giao tiền cho N thì được N trả công cho T 10.000.000 đồng.

UBND phường A kiểm tra về việc các hộ dân trong Khu dân cư Ba Tháng

H được hạ điện kế sinh hoạt vì đây là khu dân cư không đủ điều kiện xây dựng nhà ở và cấp điện. Ngày 14 tháng 4 năm 2022, UBND phường A có Công văn số 142/UBND-KT đề nghị Điện lực Bến Cát kiểm tra đối với các trường hợp được hạ điện kế sinh hoạt trong Khu dân cư Ba Tháng H. Điện lực B kiểm tra lại hồ sơ đăng ký mua điện của 42 hộ dân trong Khu dân cư Ba Tháng H thì thấy có đơn xác nhận nhà, đất có đóng dấu mộc đỏ của UBND xã A và ông Lê Quốc T2 ký tên. Ngày 22 tháng 4 năm 2022, Điện lực Bến Cát làm việc với UBND phường A, UBND phường A trả lời không xác nhận tình trạng nhà đất cho 42 đơn đã được cấp điện, tại Ủy ban nhân dân phường A không có cán bộ tên Lê Quốc T2. Ngày 25 tháng 4 năm 2022, Điện lực Bến Cát có Công văn số 271/ĐLBC-KD kiến nghị Công an thành phố B điều tra, xác minh vụ việc nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 42 hồ sơ cấp điện của 42 hộ dân trong Khu dân cư Ba Tháng H;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M10 gắn sim số

0986337165 và số 0969493590.

Theo Kết luận giám định số 236/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2022

của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “* U.B.N.D XÃ AN ĐIỀN .TX. BẾN CÁT .T. BÌNH DƯƠNG” trên 42 Đơn xác nhận nhà, đất là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Kết luận giám định số 2482/KL-KTHS ngày 06 tháng 6 năm 2023 của

Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C, khu vực phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Chữ viết tại mục “Xác nhận của UBND (Phường/Xã)” trên 08 Đơn xác nhận nhà, đất (kí hiệu A1, A3, A6, A35, từ A39 – A42) so với chữ viết của Bùi Thị Thanh T là do cùng một người viết ra.

Qua tra cứu xác minh, số điện thoại Bùi Thị Thanh T khai đã liên lạc với

đối tượng Nguyễn Đức N có chủ thuê bao như sau:

Số điện thoại 0374768053 do ông Đặng Mậu T3 (sinh năm 1956, đăng ký

thường trú: số A, đường N, khu phố B, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận) kích hoạt ngày 06/8/2019 và ông Phạm Văn L (sinh năm 1965, đăng ký thường trú: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh) kích hoạt ngày 30/11/2021 là chủ thuê bao. Qua làm việc, ông T3 và ông L khai không đăng ký số điện thoại 0374768053 và không biết lý do tại sao có tên thông tin đăng ký.

Số điện thoại 0374937353 do ông Châu Quang D (sinh năm 1989, đăng

ký thường trú: số A, tổ H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang) là chủ thuê bao. Qua xác minh, ông D đã chết vào tháng 4/2021 nên không làm việc được.

Số điện thoại 0787679660 do bà Nguyễn Thị Kim O (sinh năm 1987,

đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam) là chủ thuê bao. Qua làm việc, bà O khai không đăng ký số điện thoại 0787679660 và không biết lý do tại sao có tên thông tin đăng ký.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B cho Bùi Thị Thanh T

nhận dạng hình ảnh tất cả nhân viên Điện lực B và nhân viên Điện lực B1 có tên N, hình ảnh ông Đặng Mậu T3, ông Phạm Văn L, T xác định những người này không có ai là Nguyễn Đức N.

T nhận tổng số tiền 211.000.000 đồng của 42 hộ dân để nhờ T liên hệ làm

hồ sơ mua điện. T đem 42 hồ sơ đề nghị cấp điện đến Điện lực B nộp. Do không biết 42 đơn xác nhận nhà, đất là giả nên Điện lực B tiếp nhận và đã cấp điện cho 42 hộ dân trong Khu dân cư Ba Tháng H.

Bản án số hình sự sơ thẩm số 160/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024

của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát đã quyết định :

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thanh T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”

và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”.

Căn cứ các điểm a, c khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51

Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh T 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình

sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh T 01 (một) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Buộc bị cáo Bùi Thị Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội

là 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Thị Thanh T kháng cáo xin hưởng án

treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình

Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: bị cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định, Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Thị Thanh T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo, tuy nhiên bị cáo phạm hai tội. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung, cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung: Bị cáo Bùi Thị Thanh T quen với đối tượng tên Nguyễn

Đức N (chưa rõ nhân thân, lai lịch), N tự xưng là nhân viên Điện lực B. Khoảng cuối tháng 01/2021, N sử dụng 03 số điện thoại: 0374.768053, 0374.937353 và 0787.679660 liên lạc với bị cáo qua 02 số điện thoại 0986.337.165 và 0969493590. N nói với bị cáo có thể giúp làm hồ sơ mua điện trong Khu dân cư An Tây (còn gọi là Khu dân cư Ba Tháng H, tổ A, khu phố K, phường A, thành phố B). Bị cáo T giúp sức cho N bằng việc liên hệ với các hộ dân thu thập chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, hợp đồng ủy quyền hoặc vi bằng mua bán thửa đất (đất trong Khu dân cư Ba Tháng H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), bị cáo T phô tô các giấy tờ trên, giao bản phô tô và tiền cho N. Bị cáo đưa hai loại mẫu tài liệu: “Đơn xác nhận nhà, đất” chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền và “Phiếu đề nghị cấp điện” cho người mua điện điền thông tin cá nhân, ký tên hoặc bị cáo giả chữ ký, viết tên người mua điện, rồi giao lại cho N 02 mẫu đơn này. Sau đó N đưa hồ sơ lại cho bị cáo T đem đến Điện lực B nộp hồ sơ xin cấp điện.

Theo yêu cầu của N, bị cáo trực tiếp viết ý kiến xác nhận của UBND xã

(nay là phường) An Điền trên 08 Đơn xác nhận nhà, đất. Bị cáo nhận tổng số tiền 211.000.000 đồng của 42 hộ dân nhờ bị cáo liên hệ làm hồ sơ mua điện, sau đó bị cáo giao tiền lại cho N thì được N trả công 10.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” với

mức hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” với mức hình phạt 01 (một) năm tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Thị Thanh T có đơn kháng cáo xin

hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng bị cáo tự thú trước khi sự việc bị phát hiện, bị cáo được UBND thành B tặng giấy khen, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là không nặng, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thanh T. Giữ nguyên

Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát như sau:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thanh T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”

và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”.

- Căn cứ các điểm a, c khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều

51 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh T 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật

Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh T 01 (một) năm tù.

- Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Buộc bị cáo Bùi Thị Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội

là 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình

sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Bùi Thị Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có

hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ