- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H đối với anh Phùng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/8/2024 V/v: tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Viên.
Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Lê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Ngọc Kim - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1989. HKTT: Thôn 4, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Thôn 5, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1984. HKTT: Thôn Bích Chu, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi ở: Thôn 5, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc, nguyên đơn là chị Ngô Thị H trình bày như sau:
Chị và anh Phùng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 10 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, Thành phố Hà Nội.
Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên vay nợ mà không bàn bạc với chị, không có trách nhiệm trả nợ để sau đó chị lại là người phải đi trả nợ thay. Mặc dù chị và gia đình anh T đã khuyên nhủ anh tập trung làm ăn để có thu nhập ổn định, hỗ trợ chị trong việc chăm nuôi các con nhưng anh T không thay đổi. Anh chị đã ly thân từ tháng 5/2023, không còn sinh hoạt chung. Nay chị xác định không thể đoàn tụ nên đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị.
Về con chung: Chị xác nhận vợ chồng có hai con chung là Phùng Ngô Bích Diệp sinh ngày 06/8/2013 và Phùng Ngô Diệp Anh sinh ngày 21/6/2021. Từ trước đến nay chị vẫn là người chăm sóc, nuôi dưỡng các con, anh T không có trách nhiệm gì. Thu nhập của chị hàng tháng đều ổn định, cộng tất cả các khoản thu nhập được từ 11.000.000đ đến 14.000.000đ/tháng. Hiện anh T vẫn còn phải trả nợ, nhà chung của vợ chồng cũng đã thống nhất sẽ bán sau khi ly hôn nên chị và các con sẽ về nhà mẹ đẻ ở. Do đó, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: chị xác định vợ chồng không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phùng Văn T có ý kiến như sau:
Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn giữa anh và chị Ngô Thị H đúng như chị H trình bày. Trong quá trình chung sống, anh vẫn thường đưa lương cho chị H quản lý. Tuy nhiên, từ năm 2023 công ty nơi anh làm việc không trả lương nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xuất phát từ vấn đề kinh tế chứ không phải như lời chị H khai. Hiện anh vẫn sống cùng nhà với vợ con nhưng cả gia đình không sinh hoạt cùng nhau, anh tự nấu ăn riêng hoặc đi ăn ở ngoài. Nếu ly hôn để chị H có cuộc sống tốt hơn thì anh không có gì níu kéo và đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh xác nhận vợ chồng có hai con chung như lời chị H trình bày. Khi ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con. Mặc dù anh vẫn còn phải trả khoản nợ 425.000.000đ nhưng hiện công việc của anh có thu nhập ổn định từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ/tháng. Sau khi vợ chồng ly hôn và bán nhà chung đi thì anh và các con sẽ ở nhờ nhà anh trai tại Hà Nội. Ở quê anh cũng có nhà riêng. Vì thế, anh thấy mình có đủ điều kiện để chăm nuôi các con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Chị H vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.
- Anh T trình bày: Lý do chị H xin ly hôn như chị trình bày là đúng. Anh mong muốn tạm thời vợ chồng sẽ sống ly thân khoảng 2-3 năm, anh sẽ đi làm xa để chị H bình tĩnh, cân nhắc lại việc ly hôn. Nếu chị H vẫn cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý và anh đề nghị được nuôi con chung Phùng Ngô Diệp Anh sinh ngày 21/6/2021, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Công nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Ngô Thị H. Chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Phùng Văn T. Giao chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung Phùng Ngô Bích Diệp sinh ngày 06/8/2013 và Phùng Ngô Diệp Anh sinh ngày 21/6/2021 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh T đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Về tài sản chng và công nợ chung: các đương sự xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
- Chị Ngô Thị H khởi kiện xin ly hôn với anh Phùng Văn T hiện đang đăng ký lưu trú tại thôn 5, xã P, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị H là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung khởi kiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Phùng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 10 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị H và anh T đều xác nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là vì vấn đề kinh tế, vì anh T thường hay vay nợ nhưng không có trách nhiệm lo trả nợ. Từ tháng 5/2023 anh chị đã ly thân, dù sống chung một nhà nhưng vợ chồng không còn sinh hoạt cùng nhau. Nay chị H không momg muốn đoàn tụ, xin được ly hôn và anh T cũng đồng ý. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là cần thiết. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T.
- Về con chung: Chị H và anh T xác nhận vợ chồng có hai con chung Phùng Ngô Bích Diệp sinh ngày 06/8/2013 và Phùng Ngô Diệp Anh sinh ngày 21/6/2021. Chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con khi vợ chồng ly hôn mà không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh T trình bày nguyện vọng được nuôi con chung thứ hai là Phùng Ngô Diệp Anh, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị H đang làm việc tại Công ty TNHH dược phẩm Daragon với công việc là nhân viên hỗ trợ kinh doanh, cộng các khoản thì thu nhập ổn định hơn 11.000.000đ/tháng. Mẹ đẻ và chị dâu của chị H đều đồng ý để ba mẹ con chị đến ở chung nhà nếu vợ chồng chị ly hôn. Bản thân cháu Phùng Ngô Bích Diệp cũng trình bày nguyện vọng được ở với mẹ nếu hai bố mẹ quyết định ly hôn vì từ trước đến nay chỉ có mẹ chăm sóc hai chị em cháu. Việc nhà đều do mẹ làm còn bố khi ở nhà lại hay chơi điện thoại. Hàng ngày có bà ngoại giúp mẹ trông nom em bé và nấu cơm cho hai chị em ăn, tối thì về nhà với mẹ. Cháu không muốn sống xa em và không muốn thay đổi môi trường học tập.
Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng anh T không cung cấp và không có ý kiến về việc không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh điều kiện chăm sóc, nuôi dạy các con. Mặt khác, anh T cũng xác nhận hiện vẫn đang phải thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ 425.000.000đ. Tại phiên tòa, anh T trình bày nếu anh được nuôi con chung Phùng Ngô Diệp Anh thì hai bố con tạm thời sẽ đi thuê nhà ở nội thành Hà Nội để ở. Sau này sẽ tích cóp tiền để mua nhà hoặc cũng có thể anh sẽ đưa con về quê sống cùng bố mẹ. Công việc hiện nay của anh là giám sát về phòng cháy chữa cháy theo công trình, làm cho một công ty nên thu nhập cũng ổn định với mức 20.000.000đ/tháng (nhưng không xuất trình tài liệu, chứng cứ để chứng minh). Anh sẽ xin công ty không phải đi làm theo công trình nữa.
Như vậy, có thể thấy điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh T không tốt hơn điều kiện của chị H. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cả hai cháu Phùng Ngô Bích Diệp và Phùng Ngô Diệp Anh cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
- Về tài sản chung : Hai bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về công nợ chung: Chị H và anh T cùng xác nhận vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H đối với anh Phùng Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Phùng Văn T.
2. Về con chung: Giao chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung Phùng Ngô Bích Diệp sinh ngày 06/8/2013 và Phùng Ngô Diệp Anh sinh ngày 21/6/2021 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020039 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.
6. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Q;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Chi cục THADS huyện Q;
- Các đương sự;
- UBND xã P, huyện Q, Hà Nội (nơi đăng kí kết hôn);
- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;
Đào Thị Thúy
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:
Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:
(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).
(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).
(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.
(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).
(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề ngH của Hội thẩm nhân dân.
(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.
(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.
(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).
(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).
(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.
(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).
Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).
(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.
(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).
(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).
(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).
(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).
(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].
(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.
(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |