- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh P - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáoVõ Thanh P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2023/HS-PT Ngày: 30/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Trường
Các thẩm phán:
ông Phạm Tồn
ông Nguyễn Văn Tào
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Phạm Tấn Ánh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Võ Thanh P về tội “ Giết người”; do có kháng cáo của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo:
Võ Thanh P, sinh ngày 10/7/1990 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; con ông Võ Thanh L, sinh năm 1970 (chết) và bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/4/2019, bị Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam xử
phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chấp hành xong ngày 14/5/2019).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/02/2022, chuyển tạm giam ngày 17/02/2022,
hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Võ Thanh P theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Phan Công H1 - Văn phòng Luật sư Đào Duy K, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thôn N, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 06/02/2022, tại quán V2 thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam có hai nhóm nhậu: nhóm của Nguyễn Quốc B (sinh năm: 1991; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) gồm có B, Nguyễn Vũ T, Nguyễn Thị Tố N, Lê Thị Thu N1, Thái Thị Trúc L1, Trương Thị Bích H2 và nhóm của Võ Thanh P gồm có Phiên, Nguyễn Xuân T1, Võ Công V, vợ chồng Trần Phú Đ, vợ chồng Võ Văn L2, Nguyễn Lương T2, Nguyễn Văn B1. Trong lúc nhậu thì giữa hai nhóm xảy ra mâu thuẫn trong việc hát karaoke dẫn đến cãi vã, ném ly thủy tinh qua lại. B bị mảnh vỡ ly thủy tinh văng trúng cánh tay trái làm rách da nhưng được chủ quán Vườn Dừa can ngăn nên hai nhóm chưa xảy ra xô xát, đánh nhau. Lúc này, chị Lê Thị Thu N1 gọi điện cho bạn trai là Trần Hữu H3 (sinh năm 1998; trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) đến đón về. H3 rủ Đoàn Công V1 (sinh năm 1996; trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) đi cùng mình. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, nhóm của B ra về trước, nhóm của P cũng tính tiền ra về sau. Khi đến đoạn đường bê tông nội đồng chỗ ngã ba rẽ vào quán Vườn Dừa thuộc thôn P, xã Đ thì nhóm của B dừng lại để đổi xe. Lúc này, Võ Thanh P điều khiển xe máy chở Nguyễn Xuân T1 (sinh năm 1999; trú tại: Thôn X, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) chạy từ quán V2 ra sát vào chỗ chị Nguyễn Vũ T đang đứng làm chị T té ngã. B thấy P và T1 chạy đến, nghĩ P và T1 đuổi đánh mình nên B bỏ chạy. Trong khi chạy, B nhìn thấy có chiếc xe đạp trong giỏ xe có để 01 cái rựa, của bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1961; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) đi làm đồng đang để ở ven đường nên B lấy rựa quay lại định đánh Phiên và Thôi thì được những người trong nhóm B can ngăn và lấy rựa vứt đi. Thấy B cầm rựa định đánh mình nên T1 nhảy xuống xe chạy về hướng quán V2 còn P cũng dừng lại, bỏ xe chạy tránh qua bên, hướng ra đường Đ.
Trong lúc này, Đoàn Công V1 điều khiển xe chở Trần Hữu H3 vừa đến, nhìn thấy có người đuổi theo B nên V1 dừng xe lại, V1 và H3 xuống xe chạy bộ đến. V1 nhặt 01 khúc tre dài khoảng 1,5m, đường kính 06cm chạy trước, H3 nhặt 01 cái cuốc cán dài khoảng 1,5m, lưỡi bằng kim loại (của bà Nguyễn Thị M) đang để bên đường chạy theo sau. Thấy P chạy đến gần, nghĩ P xông đến đánh mình nên V1 cầm khúc tre đánh vào người P một cái, P đưa tay trái lên đỡ, định giật lấy khúc tre nhưng không được nên P đẩy V1 ngã ra bên đường. H3 xông đến, cầm cái cuốc phần lưỡi hướng vào trong người và đánh phần cán vào người P, P đưa tay trái lên đỡ, đồng thời giật cái cuốc từ H3. Phiên cầm cán cuốc bằng hai tay, thấy Vũ gượng dậy định đánh P, P cầm cuốc đánh phần lưỡi cuốc trúng vào mặt của V1, V1 ngã nằm xuống thì P đánh V1 03 cái nữa, lưỡi cuốc trúng vào vùng bụng, hông và đầu của V1. H3 xông vào cầm phần lưỡi cuốc giằng co với P, P giật mạnh cái cuốc làm H3 té ngã xuống đất. Khi H3 chồm người ngồi dậy, kéo Vũ định bỏ chạy thì bị P cầm cuốc đánh một cái trúng vào vùng đầu và vai H3 khiến H3 nằm xuống đường. Phiên vứt cái cuốc tại hiện trường rồi bỏ đi. H3 và V1 được mọi người đưa đi cấp cứu.
Đồ vật, tài liệu tạm giữ:
- 01 (một) đoạn cây tre khô dài 1,5m, đường kính 06cm, trọng lượng 2,5kg;
- 01 (một) cái cuốc có cán bằng tre dài 1,47m, lưỡi bằng kim loại có kích thước 16cm x 25cm;
- 01 (một) cái rựa có cán bằng tre dài 30cm, lưỡi bằng kim loại dài 27cm có khắc chữ KIÊN;
- 01 (một) đĩa DVD bên trong có chứa đoạn video ghi lại diễn biến buổi thực nghiệm điều tra.
Tại Bản giám định thương tích số: 58/GĐTT.22 ngày 16/02/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam và kết luận thương tích của Đoàn Công V1 như sau:
- Thương tích chi tiết:
Vùng đỉnh phải có vết rách da đã lành còn đóng vảy dài 4,5cm, rộng 0,2cm; hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Bờ dưới ngoài hốc mắt bên trái có vết xát da đã lành sẹo dài 3,7cm, rộng 0,1cm; hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Vùng lưng - hông bên trái có vết xát da không liên tục đã lành còn đóng vảy dài 12,5cm, rộng 0,2cm (chấn thương bụng kín gây vỡ lách độ III đã được điều trị nội khoa tích cực tạm ổn), lực tác động tương đối mạnh; hướng chếch từ sau ra trước, từ trái sang phải. Vùng hạ vị trái đến hông trái, sát trên mào chậu trái có vết rách da nông, xát da đã lành còn đóng vảy dài 14cm, rộng 0,2cm; hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, từ trái sang phải. Tất cả các vết thương đều do vật tày có cạnh giới hạn tác động gây nên.
- Kết luận giám định:
Tổn thương chủ yếu hiện tại còn thấy được ở trên bệnh nhân là các vết rách da, xát da như đã nêu trên. Chấn động não đã được điều trị nội khoa ổn định. Chấn thương bụng kín gây vỡ lách độ III đã được điều trị nội khoa tích cực tạm ổn. Không tổn thương xương. Không thấy dấu hiệu thần kinh khu trú.
Tỷ lệ thương tích tại thời điểm hiện tại: 16%.
Qua nghiên cứu, so sánh và đối chiếu vật nghi gây thương tích: có nhiều khả năng do phần lưỡi cuốc bằng kim loại do Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) C huyện Đ cung cấp gây nên.
Vùng đầu là vùng nguy hiểm, liên quan tương ứng bên trong xương hộp sọ là tổ chức não. Trong trường hợp này vết thương ở vùng đỉnh phải chỉ gây rách da đơn thuần và chấn động não đã được điều trị nội khoa ổn định nên không gây nguy hiểm đến tính mạng. Vùng lưng - hông bên trái là vùng nguy hiểm vì liên quan tương ứng bên trong là các tạng như lách, thận,... chấn thương vỡ lách gây mất máu cấp, nếu không được xử trí kịp thời về cầm máu sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Trong trường hợp này chấn thương lách độ III, được điều trị nội khoa không để dẫn đến vỡ lách thì 2, chưa nguy hiểm đến tính mạng nhưng thời gian điều trị có khi kéo dài.
Tại Bản giám định thương tích số 150/GĐTT.22 ngày 18/4/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam và kết luận thương tích của Trần Hữu H3 như sau:
- Thương tích chi tiết:
Vùng thái dương đỉnh trái có vết rách da đã lành sẹo hình vòng cung, dài 11,5cm, rộng 0,3cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên, lực tác động mạnh. Hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được, nói chậm, hay nói lặp, còn đau đầu, chóng mặt. Tay, chân vận động gấp, duỗi và đi lại được nhưng còn yếu nhẹ tay bên phải so với tay bên trái. Tỉ lệ thương tích: 34%.
Sau trên vai trái có vết rách da đã lành để lại sẹo lồi dài 3cm, rộng 0,7cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới. Vận động xoay, dạng và giơ cao cánh tay trái được bình thường. Tỉ lệ thương tích: 02%.
- Kết luận giám định:
Tổn thương chủ yếu hiện tại còn thấy được ở trên bệnh nhân là các vết rách da như đã nêu trên.
Chấn thương sọ não gây nứt sọ xương đỉnh trái, dập não tụ máu nhu mô trán thái dương trái, tụ máu - khí dưới màng cứng bán cầu trái bề dày 5mm, cấu trúc đường lệch giữa lệch nhẹ sang phải, phù não bán cầu trái đã được điều trị nội khoa tích cực tạm ổn.
Thị lực mắt phải: 5/10 PH - 10/10. Thị lực mắt trái: 10/10.
Hiện tại bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được, nói chậm, hay nói lặp, còn đau đầu, chóng mặt nhất là khi thay đổi thời tiết. Tay, chân vận động gấp, duỗi và đi lại được nhưng còn yếu nhẹ tay bên phải so với tay bên trái.
Tỷ lệ thương tích tại thời điểm hiện tại cộng dật lùi: 35%.
Qua nghiên cứu, so sánh và đối chiếu vật nghi gây thương tích là cái cuốc do Cơ quan CSĐT Công huyện Đ cung cấp: có nhiều khả năng do cái cuốc như mô tả gây nên.
Ngày 25/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam đã trưng cầu giám định bổ sung thương tích của Trần Hữu H3 theo đề nghị của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam tại Bản giám định thương tích số 150/GĐTT.22 ngày 18/4/2022.
Tại Bản giám định bổ sung thương tích số 319/GĐTT.22 ngày 28/7/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận: tỷ lệ thương tích tại thời điểm hiện tại cộng dật lùi của Trần Hữu H3 là 33%.
Tại Bản giám định thương tích số 359/GĐTT.22 ngày 24/8/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam và kết luận thương tích của Võ Thanh P: vết bầm tại khuỷu tay bên trái (kích thước 06 x 01cm) đã lành, kiểm tra không thấy xát da. Vận động gấp, duỗi khớp khuỷu trái được bình thường. Sang chấn này do vật tày tác động gây nên. Tỷ lệ thương tích tại thời điểm hiện tại: 0%.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Thanh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được.
Tại bản Cáo trạng số: 117/CT-VKSQN-P2 ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Võ Thanh Phiên về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Thanh P phạm tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt: Theo điểm a khoản 1 Điều 123; các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh P 07 B2y) năm tù; thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 08/02/2022).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 07/3/2023, bị cáo Võ Thanh P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Võ Thanh P vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như trong đơn đã nêu, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm: bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, cha mất sớm, mẹ bị bệnh tật, vợ ly hôn bỏ đi, bị cáo phải nuôi 2 con dại; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ lỗi của bị hại; bị cáo phạm tội chưa đạt, nhưng bị xử phạt 7 năm tù là quá nặng; đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng trình bày quan điểm: kháng cáo của bị cáo Võ Thanh P là hợp lệ đúng pháp luật được xem xét theo thủ tục phúc thẩm; bị cáo kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa hôm nay, qua tranh luận xét thấy việc điều tra là đầy đủ, toàn diện. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Võ Thanh P 7 B2y) năm tù về tội “Giết người” theo điểm a khoản 1 Điều 123; các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo, nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới. Vì vậy, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thanh P thừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm đã nêu; nhưng cho rằng do bị kích động tinh thần về hành vi trái pháp luật của nạn nhân, nên bị cáo mới ức chế mà gây án. Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các chứng cứ đã thu thập được tại cơ quan điều tra. Như vậy, có đủ căn cứ chứng minh kết luận: khoảng 16h00 ngày 06/02/2022 tại đường bê tông nội đồng thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vì mâu thuẫn giữa hai nhóm trước đó tại quán V2 mà Đoàn Công V1 dùng gậy tre và Trần Hữu H3 dùng cán cuốc đánh bị cáo P nhưng không gây thương tích gì. Bị cáo P xô ngã anh V1 và giựt cái cuốc trên H3 dùng lưởi cuốc đánh 04 cái vào mặt, bụng, hông và đầu anh V1 gây nên thương tích có tỷ lệ 16% và 01 cái vào đầu, vai anh H3 gây nên thương tích có tỷ lệ 35%.
Với hành vi và hậu quả như trên; Toà án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất mức độ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo Võ Thanh P 7 năm tù về tội “Giết người” theo điểm điểm a khoản 1 Điều 123. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; bị cáo phạm tội là do bị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của những người bị hại; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử bị cáo P 07 năm tù.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Thanh P; HĐXX thấy rằng: bị cáo P có hành vi cầm cán cuốc đánh lưỡi cuốc bằng kim loại là hung khí nguy hiểm vào những vụng trọng yếu trên cơ thể của anh V1, anh H3 có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng do cứu chữa kịp thời nên anh V1, anh H3 không chết. Toà án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo P phạm tội “Giết người” đối với 02 người trở lên, nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 123 có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên xử phạt bị cáo Võ Thanh P dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 7 năm tù là đã xem xét chiếu cố đến bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới làm thay đổi bản chất vụ án; những tình tiết mà bị cáo và luật sư nêu ra đã được cấp sơ thẩm vận dụng; do vậy, HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của luật sư; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Võ thanh P1 phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáoVõ Thanh P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Tuyên bố bị cáo Võ Thanh P phạm tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 123; các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh P 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 08/02/2022).
2/ Án phí phúc thẩm: bị cáo Võ Thanh P phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (30/5/2023).
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Cơ quan CSĐT - Công an Quảng Nam; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Quảng Nam; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Quảng Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Cục THADS tỉnh Quảng Nam; - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Nam; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - UBND phường Đoàn Kết (thay cho việc thông báo bằng văn bản); - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Tấn Trường |