vanban.org

Bản án 169/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Lê D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 05/8/2022).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:169/2022/HS-ST
Ngày 30 -11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải và bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2022/TLST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Lê D, sinh ngày 25/5/1985, tại Y B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 7, phường Y T, thành phố Y B, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Đàm Thị M; vợ: Vương Thị T; con: 02 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017 tiền sự: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2002, D bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi trường giáo dưỡng số 2 theo Quyết định số 480 ngày 25/9/2002 của UBND tỉnh Yên Bái, thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, D chấp hành xong ngày 25/7/2004; Tại Bản án số 94 ngày 26/9/2005 của TAND thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Lê D 04 năm tù về tội: “ Cướp tài sản” quy định tại Điều 133 BLHS năm 1999, D đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/5/2009, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 02/11/2006; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 119 ngày 31/8/2022, Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê D về hành vi: “ trộm cắp tài sản và Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt 2.500.000 đối với hành vi trộm cắp tài sản và mức phạt 1.500.000đ đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, D đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên vào ngày 05/9/2022. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

Bị hại:

- Anh Trần Quang X, sinh năm 1979, trú tại: Thôn 7, xã N M, huyện L N, tỉnh Hà Nam (vắng mặt);

- Anh Phạm Minh K, sinh năm 1983, trú tại: xóm M L, xã H Q, huyện N T, tỉnh Nam Định (vắng mặt);

- Anh Vũ Viết V, sinh năm 1976, trú tại: Xã M Q, huyện K X, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);

- Anh Nguyễn Thế M1, sinh năm 1974, trú tại: Thôn T T, xã T N, huyện Y B, tỉnh Yên Bái (vắng mặt);

- Anh Phạm Quang M2, sinh năm 1976 ở Tổ 1, thị trấn Y B, huyện Y B, tỉnh Yên Bái (vắng mặt);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đào Ngọc Đ, sinh năm 1990, trú tại: Thôn N G, xã Đ B, huyện S L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

- Anh Lê Duy B 1, sinh năm 1984, trú tại:Tổ 4,thị trấn Y B, huyện Y B, tỉnh Yên Bái (vắng mặt);

- Chị Lê Thị T1, sinh năm 1979, trú tại: Tổ 7,thị trấn Y B, huyện Y B, tỉnh Yên Bái (vắng mặt);

- Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1990, trú tại: Khu phố C D, phường Đ B, thành phố T S, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2022, Lê D, trú tại: Tổ 7, phường Y T, thành phố Y B, tỉnh Yên Bái đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và địa bàn thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 21 giờ ngày 13/6/2022, Lê D uống rượu cùng với các anh Trần Quang X, Phạm Minh K, Vũ Viết V và anh Nguyễn Thế M1 đều là công nhân sửa điện nước ở một quán cơm tại khu vực phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên (D và nhóm anh X đều là thợ điện nước cùng làm với nhau được khoảng 03 ngày, trước đó không có quan hệ quen biết gì với nhau). Sau khi ăn uống xong, cả nhóm cùng nhau thuê phòng số 30 của nhà nghỉ Tường Vi ở tổ dân phố Thanh Giã, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên để ngủ. Đến khoảng 0 giờ 5 phút ngày 14/6/2022, Lê D tỉnh giấc, thấy mọi người đang ngủ say, D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của mọi người trong phòng bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Lợi dụng lúc mọi người đang ngủ say, D đã lén lút trộm cắp của anh M1 một điện thoại Samsung A32 màu xanh, trộm cắp của anh X một điện thoại Vsmart màu xanh và 01 máy tính bảng Lenovo, trộm cắp của anh K một điện thoại Samsung Note 9 màu xám, trộm cắp của anh V một điện thoại Oppo A15. Sau khi trộm cắp được tài sản, D khẽ mở chốt cửa và rời khỏi nhà nghỉ Tường Vi.

Đến khoảng 8 giờ ngày 14/6/2022, D bắt xe buýt về xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc là quê nội của D, sau đó D đi bộ đến cửa hàng điện thoại Đức Mobile của anh Đào Ngọc Đức trú tại: Thôn Nam Giáp, xã Đức Bác, huyện Sông Lô, D bán cho anh Đức 01 điện thoại di động Vsmart với giá 800.000đ, 01 điện thoại Samsung A32 với giá 4.000.000đ và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo với giá 800.000đ. Đến khoảng đầu tháng 7/2022, D đến tỉnh Bắc Ninh để làm thuê, tại đây, D tiếp tục bán chiếc điện thoại di động Samsung Note 9 trước đó đã trộm cắp được của anh K với giá 3.000.000đ tại một quán cầm đồ không rõ địa chỉ cụ thể ở thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và bán 01 chiếc điện thoại di động Oppo A15 trước đó D trộm cắp được của anh V cho cửa hàng cầm đồ 268, khu phố Chùa Dậu, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn do anh Nguyễn Tiến L với giá 1.000.000đ. Quá trình điều tra, anh L khai nhận do thời gian đã lâu anh L không còn nhớ chính xác đã mua chiếc điện thoại này của ai và đã bán cho ai, anh chỉ nhớ bán 01 chiếc điện thoại Oppo A15 với giá 1.000.000đ cho một người khách không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, vì vậy Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được chiếc điện thoại trên.Toàn bộ số tiền có được do bán tài sản trộm cắp Lê D khai nhận đã tiêu sài cá nhân hết. Anh Đào Ngọc Đức sau khi mua điện thoại của D, anh Đức đã bán chiếc điện thoại Sam Sung cho một người khách không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể được số tiền 4.400.000đ, bán chiếc điện thoại Vsmart cho một nam giới là khách đi đường với giá 900.000đ, còn lại chiếc máy tính bảng Lenovo anh Đức đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra và nộp số tiền 500.000đ là tiền thu lời do bán 02 chiếc điện thoại mua của bị cáo D.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 87 ngày 27/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên kết luận:

- 01 điện thoại Samsung A32 màu xanh sản xuất năm 2021, đã cũ, đã qua sử dụng trị giá 3.866.000đ.

- 01 điện thoại di động Vsmart màu xanh sản xuất năm 2020 trị giá 1.067.000đ

- 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo màu đen sản xuất năm 2018 trị giá 700.000đ.

- 01 điện thoại Samsung Note 9 màu xám sản xuất năm 2019 trị giá 3.767.000đ

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu trắng sản xuất năm 2020 trị giá 1.900.000đ. Tổng giá trị tài sản trộm cắp: 11.300.000đ.

Ngày 31/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 445 yêu cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với đoạn video thu giữ được tại nhà nghỉ Tường Vi. Tại bản Kết luận giám định số 2907 ngày 01/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Trích xuất được 03 kiểu ảnh thể hiện diễn biến của đối tượng mặc áo dài kẻ ca rô, quần ngắn xuất hiện trong tệp tin video gửi giám định, đi vào phòng và đi ra khỏi phòng. Ảnh chụp và thuyết minh được in vào bản ảnh giám định.

Lần thứ hai:

Khoảng 9 giờ 15 phút ngày 02/8/2022, Lê D điều khiển xe máy Honda, loại Wave ∝ màu trắng BKS 21B1-713.32 đến nhà anh Phạm Quang M2 ở Tổ 1, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái để lấy tiền công lắp nước mà trước đó D đã làm cho anh M2 nhưng anh M2 không ở nhà. Lúc này D lên cơn nghiện ma túy, quan sát xung quanh không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản mang đi bán lấy tiền mua ma túy, D đi vào trong bếp nhà anh M2 (theo lối cửa sau không khóa) lén lút trộm cắp 01 chiếc máy bơm màu xanh đen nhãn hiệu “TAIJA”. Sau đó D mang lên xe máy và đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn phế liệu Bình Hoa ở Tổ 4, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái bán chiếc máy bơm này cho chị Trần Thị Thanh H trú tại: Tổ 4, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái được số tiền 250.000đ. Sau đó D đi đến chợ Km10 huyện Yên Bình gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, mua 01 gói ma túy loại Heroin với số tiền 250.000đ (là tiền vừa bán chiếc máy bơm mà có). Sau đó D mang ma túy đến bãi đất trống gần đó sử dụng hết.

Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, D tiếp tục điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave ∝ màu trắng BKS 21B1-713.32 đến nhà anh M2 để hỏi tiền công do D đã lắp nước nhưng anh M2 vẫn không có mặt ở nhà nên D nảy sinh ý định vào nhà anh M2 để trộm cắp tài sản. D quan sát xung quanh không có ai rồi mở cốp xe máy của D lấy 01 chiếc kìm và lén lút dùng kìm vặn chốt cửa nhà anh M2, D đi vào bên trong nhà anh M2 thì thấy tại vị trí góc nhà có 01 bộ điều hòa màu trắng nhãn hiệu FUNIKI (gồm 01 giàn nóng vỏ bằng kim loại màu trắng có kích thước (80 x 26 x 53)cm và 01 giàn lạnh có đặc điểm vỏ màu trắng, kích thước (86 x 28 x 33) cm). D lấy bộ điều hòa này để lên xe máy rồi chở đến cửa hàng thu mua sắt vụn phế liệu Bình Hoa ở Tổ 4, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và bán cho anh Lê Duy B 1 (là chồng của chị Trần Thị Thanh H) với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, D đi đến chợ Km10 huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái gặp người đàn ông lúc sáng đã bán ma túy cho D, tiếp tục mua 1.500.000đ ma túy loại Heroin để sử dụng cho bản thân. Đến ngày 04/8/2022, D bị cơ quan Công an thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái triệu tập lên làm việc, Lê D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ của D 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng BKS 21B1-713.32, 01 kìm sắt, vỏ nhựa màu đỏ đen, dài 20cm, phần nhựa dài 13cm, đã cũ, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái kết luận: 01 máy bơm nước màu xanh đen nhãn hiệu TAIJA, đã qua sử dụng trị giá 375.000đ, 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki 12000 BTU gồm 01 giàn lạnh và 01 giàn nóng, đã qua sử dụng trị giá 2.175.000đ.

Tại Cáo trạng số: 147/CT-VKSNDTPVY ngày 24/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Lê D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Bị hại: Anh Trần Quang X, anh Nguyễn Thế M1, anh Phạm Minh K, anh Vũ Viết V, anh Phạm Quang M2 tại phiên tòa vắng mặt, quá trình điều tra anh X, anh Thế M1, anh V, anh K, anh Quang M2 trình bày như như nội dung Bản cáo trạng nêu trên. Anh X yêu cầu bị cáo Lê D phải bồi thường cho anh chiếc điện thoại Vsmart theo định giá là 1.067.000đ; anh Thế M1 yêu cầu bị cáo D phải bồi thường cho anh chiếc điện thoại Samsung A32 màu xanh theo định giá là 3.866.000đ; anh K yêu cầu bị cáo Lê D phải bồi thường cho anh chiếc điện thoại Samsung note 9 màu xám theo định giá là 3.767.000đ; anh V yêu cầu bị cáo Lê D phải bồi thường cho anh chiếc điện thoại Oppo A15 theo định giá là 1.900.000đ. Anh Phạm Quang M2 đã được cơ quan điều tra trả lại 01 máy bơm nước màu xanh; 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki gồm 01 cục nóng và 01 cục lạnh, sau khi nhận lại tài sản anh Phạm Quang M2 không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đào Ngọc Đức là người mua 01 điện thoại di động Vsmart với giá 800.000đ, 01 điện thoại Samsung A32 với giá 4.000.000đ và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo với giá 800.000đ. Sau khi mua được số tài sản trên, anh Đức đã bán chiếc điện thoại Samsung với giá 4.400.000đ, bán chiếc điện thoại Vsmart với giá 900.000đ cho 02 người khách không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra anh Đức đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc máy tính bảng Lenovo và số tiền 500.000đ là tiền thu lời do bán 02 chiếc điện thoại mua của bị cáo D.

Chị Trần Thị Thanh H là người mua lại của bị cáo Lê D 01 chiếc máy bơm với giá 250.000đ, chị H không biết nguồn gốc tài sản trên do D trộm cắp mà có, chị H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc máy bơm trên và không yêu cầu bị cáo Lê D phải bồi thường cho chị số tiền 250.000đ;

Anh Lê Duy B 1 là người mua lại của Lê D 01 bộ điều hòa với giá 1.500.000đ, anh B 1 không biết nguồn gốc tài sản trên do D trộm cắp mà có. Ngày 04/8/2022, chị H (vợ anh B 1) đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra bộ điều hòa trên và không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường số tiền 1.500.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê D 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 05/8/2022); căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ. Buộc bị cáo Lê D phải bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Trần Quang X 01 điện thoại Vsmart trị giá 1.067.000đ; Anh Nguyễn Thế M1 01 điện thoại Samsung A32 trị giá 3.866.000đ; Anh Phạm Minh K 01 điện thoại Samsung note 9 trị giá 3.767.000đ; Anh Vũ Viết V 01 điện thoại Oppo A15 trị giá 1.900.000đ; Anh Đào Ngọc Đức số tiền 800.000đ; bị cáo Lê D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Bị cáo Lê D không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê D tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ

̃, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2022, Lê D đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 0 giờ 5 phút ngày 14/6/2022, tại nhà nghỉ Tường Vi ở TDP Thanh Giã, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, lợi dụng lúc anh Trần Quang X, anh Phạm Minh K, anh Vũ Viết V, anh Nguyễn Thế M1 (đều là công nhân sửa điện nước với Lê D) đang ngủ say, D đã lén lút trộm cắp của anh M2 một điện thoại Samsung A32 màu xanh, trộm cắp của anh X một điện thoại Vsmart màu xanh và 01 máy tính bảng Lenovo, trộm cắp của anh K một điện thoại Samsung Note 9 màu xám, trộm cắp của anh V một điện thoại Oppo A15. Sau khi trộm cắp được tài sản, D đã bán cho anh Đào Ngọc Đức 01 điện thoại di động Vsmart với giá 800.000đ, bán 01 điện thoại Samsung A32 với giá 4.000.000đ và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo với giá 800.000đ, 01 chiếc điện thoại di động Samsung Note 9 tại một quán cầm đồ không rõ địa chỉ cụ thể ở thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.000.000đ và bán 01 chiếc điện thoại di động Oppo A15 cho cửa hàng cầm đồ 268, khu phố Chùa Dậu, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh do anh Nguyễn Tiến L làm chủ với giá 1.000.000đ. Toàn bộ số tài sản mà Lê D trộm cắp được bao gồm 04 chiếc điện thoại di động và 01 máy tính bảng theo Kết luận định giá có trị giá 11.300.000đ.

Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 02/8/2022, Lê D đến nhà anh Phạm Quang M2 ở Tổ 1, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, lợi dụng sơ hở nhà anh M2 không có người ở nhà, D đã lén lút dùng kìm vặn chốt cửa nhà anh M2, trộm cắp 01 bộ điều hòa màu trắng nhãn hiệu FUNIKI (gồm 01 giàn nóng và 01 giàn lạnh). Sau khi lấy được bộ điều hòa trên, D chở đến cửa hàng thu mua sắt vụn phế liệu Bình Hoa ở Tổ 4,thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và bán cho anh Lê Duy B 1 với giá 1.500.000đ. Số tiền trên D đã mua ma túy và sử dụng hết số ma túy cho bản thân. Trị giá bộ điều hòa mà D trộm cắp theo Kết luận định giá là 2.175.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng . . . thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tinh tiết tăng̀ nặng, giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự̀

và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 3 năm nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Bị cáo Lê D là người có nhân thân xấu, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra người phạm tội chưa bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Đối với người có liên quan trong vụ án:

Đối với anh Đào Ngọc Đức là người mua lại của Lê D 01 điện thoại di động Vsmart với giá 800.000đ, 01 điện thoại Samsung A32 với giá 4.000.000đ và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo với giá 800.000đ, anh Đức không biết nguồn gốc tài sản trên do D trộm cắp mà có. Sau khi mua được số tài sản trên, anh Đức đã bán chiếc điện thoại Samsung với giá 4.400.000đ, bán chiếc điện thoại Vsmart với giá 900.000đ cho 02 người khách không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, còn lại chiếc máy tính bảng Lenovo anh Đức đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Đức là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Tiến L là chủ cửa hàng cầm đồ 268, khu phố Chùa Dậu, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, anh L khai nhận do thời gian đã lâu, anh L không còn nhớ chính xác đã mua chiếc điện thoại này của ai và đã bán cho ai, anh chỉ nhớ bán 01 chiếc điện thoại Oppo A15 với giá 1.000.000đ cho một người khách không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, anh L không biết nguồn gốc tài sản trên do trộm cắp mà có, vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với chị Trần Thị Thanh H là người mua lại của Lê D 01 chiếc máy bơm với giá 250.000đ, chị H không biết nguồn gốc tài sản trên do D trộm cắp mà có. Ngày 04/8/2022, chị H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc máy bơm trên, và không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường số tiền 250.000đ, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị H là phù hợp.

Đối với anh Lê Duy B 1 là người mua lại của Lê D 01 bộ điều hòa với giá 1.500.000đ, anh B 1 không biết nguồn gốc tài sản trên do D trộm cắp mà có. Ngày 04/8/2022, chị H (vợ anh B 1) đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra bộ điều hòa trên, và không yêu cầu bị cáo Lê D phải bồi thường cho anh chị số tiền 1.500.000đ. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh B 1 là phù hợp.

Đối với người nam giới bán ma túy cho Lê D ngày 02/8/2022 ở ngã ba km 10, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, theo D khai nhận là nam giới khoảng hơn 40 tuổi, tóc cắt ngắn, cao khoảng 1m70, dáng người gầy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc máy bơm trị giá 375.000đ (dưới 2.000.000đ) và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng ngày 02/8/2022, do D khai nhận đã sử dụng hết số ma túy mua được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình nhận định không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với D về hành vi trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D, mức phạt 2.500.000 đối với hành vi trộm cắp tài sản và mức phạt 1.500.000đ đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, D đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên. Xét thấy, việc Lê D trộm cắp chiếc máy bơm màu xanh đen nhãn hiệu TAIJA của anh Phạm Quang M2 trị giá 375.000đ vào sáng ngày 02/8/2022 và trộm cắp 01 bộ điều hòa màu trắng nhãn hiệu Funiki của anh M2 trị giá 2.175.000đ và chiều cùng ngày 02/8/2022 là chuỗi hành vi liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian nên theo Hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 5, phần II, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 và mục 3, phần I Công văn số 64 ngày 03/4/2019 của TAND tối cao cần cộng giá trị tài sản của 02 lần trộm cắp trên lại để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê D về hành vi trộm cắp chiếc máy bơm của anh B 1 với mức phạt 2.500.000đ là không có căn cứ. Tuy nhiên, do D đã chấp hành xong Quyết định xử phạt nên không cần thiết phải yêu cầu Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Bình hủy bỏ một phần Quyết định xử phạt nêu trên.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 500.000đ anh Đào Ngọc Đức tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra xác định được số tiền trên là tiền thu lời bất chính từ việc anh Đức bán 02 chiếc điện thoại đã mua của Lê D mà có được nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại Samsung A32 Lê D đã trộm cắp của anh Nguyễn Thế M1; 01 điện thoại Vsmart của anh Trần Quang X; 01 điện thoại Samsung Note 9 của anh Phạm Minh K; 01 điện thoại Oppo A15 của anh Vũ Viết V, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu giữ được các điện thoại trên.

Đối với 01 máy tính bảng Lenovo Lê D trộm cắp của anh Trần Quang X, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc máy tính bảng trên, ngày 26/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên đã trả lại tài sản trên cho anh Trần Quang X, sau khi nhận lại tài sản anh X không có ý kiến gì.

Đối với xe mô tô BKS 21B1-713.32 bị cáo Lê D sử dụng để đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định, đăng ký xe mang tên anh Dương Quang M2 năm 2019, anh M2 đã bán lại chiếc xe trên cho cửa hàng xe máy Ngọc Hường, địa chỉ: Tổ 7, phường Y T, thành phố Y B, tỉnh Yên Bái. Ngày 02/3/2019, chị Lê Thị T1 (là chị gái của Lê D) đã mua lại chiếc xe mô tô trên của cửa hàng Ngọc Hường với giá 14.000.000đ, sau khi mua xe chị T1 vẫn chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 02/8/2022, D mượn chiếc xe trên của chị T1 làm phương tiện đi lại, việc D sử dụng chiếc xe trên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chị T1 không biết. Ngày 22/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái trả lại chiếc xe trên cho chị T1 cùng 01 kìm sắt là dụng cụ để trong cốp xe, chị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Trần Quang X yêu cầu bị cáo D phải bồi thường 01 điện thoại Vsmart trị giá là 1.067.000đ; anh Nguyễn Thế M1 yêu cầu bị cáo D phải bồi thường 01 điện thoại Samsung A32 trị giá là 3.866.000đ; anh Phạm Minh K yêu cầu bị cáo D phải bồi thường 01 điện thoại Samsung note 9 trị giá là 3.767.000đ; anh Vũ Viết V yêu cầu bị cáo D phải bồi thường 01 điện thoại Oppo A15 trị giá là 1.900.000đ. Anh Đào Ngọc Đức yêu cầu bị cáo D phải bồi thường số tiền 800.000đ.

Anh Phạm Quang M2 đã được cơ quan điều tra trả lại 01 máy bơm nước màu xanh; 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki gồm 01 cục nóng và 01 cục lạnh, sau khi nhận lại tài sản anh Phạm Quang M2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 05/8/2022).

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ;

Buộc bị cáo Lê D phải bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Trần Quang X 01 điện thoại Vsmart trị giá 1.067.000đ; Anh Nguyễn Thế M1 01 điện thoại Samsung A32 trị giá là 3.866.000đ; Anh Phạm Minh K 01 điện thoại Samsung note 9 trị giá là 3.767.000đ; Anh Vũ Viết V 01 điện thoại Oppo A15 trị giá là 1.900.000đ; Anh Đào Ngọc Đức số tiền 800.000đ;

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hánh án không thanh toán khoản tiền nêu trên thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 570.000đ (năm trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ