vanban.org

Bản án 169/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự.

*Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị O Ph về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Nguyễn Văn V. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị O Ph được ly hôn với anh Nguyễn Văn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị O Ph xin ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? *Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẬU L
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169 /2022/HNGĐ - ST
Ngày 16/8/2022
V/v" Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU L -TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Nam Văn

Ông Nguyễn Văn Thư

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án

Tòa án nhân dân huyện Hậu L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu L tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O Ph - Sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn H Ph, xã H L, huyện Hậu L, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V - Sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn Th Ph, xã Ng L, huyện Hậu L, tỉnh Thanh Hoá.

Ngời giám hộ cho anh Nguyễn Văn V là ông Nguyễn Văn Qu – Chức vụ : Phó chủ tịch UBND xã Ng L, huyện Hậu L. Theo Quyết định cử Ngời tham gia tố tụng số: 42/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của Chủ tịch UBND xã Ng L

Tại phiên tòa: Chị Ph và ông Qu có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo nguyên đơn - chị Nguyễn Thị O Ph trình bày:

* Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có giấy đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng L ngày 05/01/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh Phc với nhau được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, cụ thể là thời gian năm 2010 anh V đi làm ăn xa về nhà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, năm 2011 anh V bị ảnh hưởng thần kinh đã nhiều lần đánh đập chị một cách vô cớ, không chịu được hoàn cảnh như vậy, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị Ph xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng để hàn gắn đoàn tụ được nữa, nên chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Hậu L xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

* Về con chung: Chị Nguyễn Thị O Ph xác định: Vợ chồng có 01 con chung, cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 24/11/2011. Vợ chồng ly nguyện vọng của chị Ph xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung, vì hiện nay anh V đang được hưởng trợ cấp xã hội đối với Ngời khuyết tật đặc biệt nặng.

* Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị O Ph xác định: Vợ chồng không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ thứ tài sản gì, nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

2. Đối với bị đơn – anh Nguyễn Văn V:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh V không đến Tòa án để giải quyết vụ án, theo đơn đề nghị của chị Ph Tòa án đã về địa Ph để xác minh và tiến hành giao các văn bản tố tụng, tại gia đình anh V, bà Hoàng Thị Dân là mẹ đẻ của anh V cho biết, anh V đang hưởng chế độ bảo trợ xã hội đối với Ngời khuyết tật nặng và đang được bệnh viện tâm thần cấp thuốc hàng tháng, hiện tại anh V đang có mặt tại địa Ph, Tòa án đã giải thích pháp luật cho bà Dân, gia đình có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố một Ngời mất năng lực hành vi dân sự, hoặc đề nghị cử Ngời giám hộ cho anh V để tham gia tố tụng với tư cách là Ngời giám hộ cho bị đơn trong vụ án xin ly hôn, nhưng bà Dân từ chối nhận các văn bản tố tụng và từ chối làm Ngời giám hộ. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V, Tòa án đã có công văn yêu cầu cử Ngời giám hộ đến UBND xã Ng L, ngày 24/6/2022 Chủ tịch UBND xã Ng L, đã có Quyết định số: 42/QĐ-UBND cử ông Nguyễn Văn Qu - Phó chủ tịch UBND xã Ng L, huyện Hậu L, tham gia tố tụng với tư cách là Ngời giám hộ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký và nhưng Ngời tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 BLTTDS về thẩm quyền thụ lý; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 BLTTDS; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS; thực hiện đúng quy định tại Điều 203 BLTTDS về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn, Ngời giám hộ của bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

2. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX: căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Xét thấy hôn nhân của chị Ph, anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị O Ph, cho chị Ph được ly hôn anh Nguyễn Văn V.

- Về con chung: Xét thấy anh Nguyễn Văn V hiện đang phải điều trị bệnh tâm thần và đang được hưởng trợ cấp xã hội nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu L được phát triển về mọi mặt, nên đề nghị giao cháu L cho chị Ph chăm sóc, nuôi dưỡng anh V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

-Về tài sản: Chị Ph không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

- Về công nợ: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

- Về án phí: Chị Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

ơ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con " giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị O Ph và bị đơn anh Nguyễn Văn V là tranh chấp dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại thôn Th Phc, xã Ng L, huyện Hậu L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hậu L theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, như thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải. Nhưng do anh V là đối tượng khuyết tật và đang hưởng chế độ bảo trợ xã hội, hiện tại anh V đang có mặt tại địa Ph, nhưng anh V không đến tòa án làm việc, khi Tòa án đến gia đình để giao các văn bản tố tụng anh V cũng không nhận. Tòa án đã giải thích pháp luật cho bà Hoàng Thị Dân là mẹ đẻ của anh V về việc (Gia đình cử Người giám hộ cho anh V để tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án xin ly hôn) nhưng bà Dân từ chối nhận các văn bản tố tụng và không yêu cầu gì và cũng không đồng ý làm Ngời giám hộ cho bị đơn tham gia tố tụng. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V, Tòa án đã có công văn yêu cầu cử Ngời giám hộ tham gia tố tụng, ngày 24/6/2022 Chủ tịch UBND xã Ng L, đã có Quyết định số: 42/QĐ-UBND cử ông Nguyễn Văn Qu - Phó chủ tịch UBND xã Ng L, huyện Hậu L, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V. Xét thấy việc cử Ngời tham gia tố tụng của chủ tịch UBND xã Ng L là hoàn toàn hợp pháp, đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX chấp nhận.

Tại các buổi H giải ông Qu có đơn xin vắng mặt, nên vụ án không tiến hành H giải được, Chị Ph vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh V và đề nghị HĐXX tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã có quyết định mở phiên tòa ngày 26/7/2022, nhưng anh V vắng mặt, để bảo đảm quyền lợi cho anh V Tòa án đã phải hoãn phiên tòa và thông báo mở lại phiên tòa vào ngày 16/8/2022 chị Ph và Ngời giám hộ của anh V có đơn xin xét xử vắng măt, anh V vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS, tiến hành xét xử vụ án với sự vắng mặt của nguyên đơn, đại diện bị đơn.

. Về nội dung vụ án:

*Về hôn nhân: ChịNguyễn Thị O Ph vàbịđơnanhNguyễnVăn V kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng L, ngày 05/01/2007, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh Phc với nhau được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, cụ thể là thời gian năm 2010 anh V đi làm ăn xa về nhà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, năm 2011 anh V bị ảnh hưởng thần kinh đã nhiều lần đánh đập chị một cách vô cớ, không chịu được hoàn cảnh như vậy, nên chị Ph đã ra ngoài sống ly thân với anh V từ năm 2012 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Ph xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng để hàn gắn đoàn tụ được nữa, nên chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Hậu L xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh V và chị Ph đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ph, cho chị Ph được ly hôn với anh V là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

*Về con chung: Chị Nguyễn Thị O Ph xác định: Vợ chồng có 01 con chung, cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 24/11/2011. Hiện tại cháu L đang ở với anh V và bà Dân (bà nội ). Vợ chồng ly nguyện vọng của chị Ph xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung, vì hiện nay anh V đang được hưởng trợ cấp xã hội đối với Ngời khuyết tật đặc biệt nặng. Do quá trình giải quyết vụ án anh V và bà Dân cố tình không phối hợp, nên Tòa án không thể tiến hành lấy ý kiến của cháu L được.

Xét thấy nguyện vọng của chị Ph đề nghị về việc được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn L là hoàn toàn chính đáng, mặt khác anh V là Ngời đang hưởng trợ cấp xã hội, nên không có khả năng nuôi cháu L, vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Ph, giao cháu L cho chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn tòa phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị Ph không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị, nên HĐXX không xem xét.

*Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị O Ph xác định: Vợ chồng không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ thứ tài sản gì, nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết, nên miễn xét.

.Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị O Ph phải chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

*Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị O Ph về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Nguyễn Văn V.

1.Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị O Ph được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 24/11/2011 cho chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Ph không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.

Anh V có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

*Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị O Ph phải nộp 300.00đ án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ đi 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà chị Ph đã nộp theo biên lai thu số: AA/2021/0008815 ngày 21/02/2022 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Hậu L.

*Về quyền kháng cáo: Chị Ph, Người đại diện, anh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ( Hoặc) ngày bản án được niêm yết tại địa Ph, nơi cư trú.

Cỡ chữ