- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRAN HOANG H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2020/HS-ST Ngày: 09-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Xuân Hương
2. Bà Võ Thị Thu Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Hoàng H, sinh năm 1998, sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp 1, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Lê Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 13/12/2016, H bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định số 169/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, đến ngày 15/6/2018 chấp hành xong.
- Ngày 22/01/2016, H bị Tòa án nhân nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 02 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 03/7/2016 chấp hành xong.
- Ngày 22/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh khởi tố bị can Trần Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đang tiến hành điều tra.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/6/2020 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số 56/10, đường ĐX95, tổ 48, khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Tôn Nữ Bảo Tr, sinh năm 1993
Địa chỉ: Số 250, đường H, tổ 6, ấp 4, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
2. Ông Phạm Tấn T, sinh năm 1981
Địa chỉ: Số 01, đường tỉnh lộ 15, ấp 1A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 20/4/2020, Trần Hoàng H điều khiển xe gắn máy Yamaha Sirius biển số 59Y3-477.96 chở bà Tôn Nữ Bảo Tr đến phòng trọ của ông Phạm Văn H1 tại địa chỉ số 28, đường số 192, tổ 8, ấp 2, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để xin tiền. Khi đến nơi, bà Tr ngồi trông xe phía ngoài đường, H đi bộ vào trong phòng trọ của ông H1 nhưng khóa cửa nên H đi ra. Lúc đi ngang qua cửa sổ nhà bà Vũ Thị L là chủ nhà trọ, nhìn thấy trên bàn có để 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen, dưới nền gạch có bà Khổng Thị B (mẹ ruột bà L) đang nằm ngủ và 02 cháu nhỏ đang ngồi chơi. H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đi vào từ cửa sau nhà lên phòng khách, lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay Dell màu đen cầm trên tay, đang trong lúc chuẩn bị tẩu thoát thì bà B cùng 02 cháu nhỏ phát hiện truy hô đuổi theo. H chạy ra ngoài, giấu máy tính vào áo khoác rồi kêu bà Tr nổ máy chạy ra hướng đường tỉnh lộ 8 nhằm tẩu thoát. Do nghe thấy mọi người truy hô, bà Trân biết H vừa thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có khuyên nhủ H quay trở lại trả tài sản cho bị hại, rồi H chở Tr về lại phòng trọ nhưng H không trả lại tài sản và đem chiếc máy tính xách tay bán lại tại cửa hàng sửa chữa điện thoại di động “Trung Trực” tại địa chỉ số 01, đường tỉnh lộ 15, ấp 1A, xã T, huyện Củ Chi, do ông Phạm Tấn T làm chủ với giá 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) tiêu xài, mua ma túy sử dụng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 134/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự đã kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell core i3, màu đen trị giá 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). (BL 144,145)
Vật chứng thu giữ:
-01 điện thoại di động Samsung màu đồng, số Imei1: 3552231/08/284543/1; Imei2:3552321/08/284543/9;
- 01 xe gắn máy Yamaha Sirius màu trắng xanh, số máy E32VE036213; số khung: RLCUE3710KY013510;
- 01 biển số 18S1-2494.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà L yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng).
Đối với bà Tôn Nữ Bảo Tr do H rủ đi cùng nhằm mục đích để xin tiền, không có sự bàn bạc về việc trộm cắp tài sản và không được chia tiền nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với ông Phạm Tấn T khai nhận chỉ kinh doanh sửa chữa điện thoại, không mua máy tính xách tay của H, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 164/CT-VKS.CC ngày 10/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị can Trần Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hoàng H với mức án từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động Samsung màu đồng, số Imei1: 3552231/08/284543/1; Imei2:3552321/08/284543/9 do không liên quan đến hành vi phạm tội;
- Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy Yamaha Sirius màu trắng xanh, số máy E32VE036213; số khung: RLCUE3710KY013510 do bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội;
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng).
- Đối với 01 biển số 18S1-2494 đề nghị tách ra khỏi vụ án để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi điều tra và xử lý sau.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, các quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 20/4/2020, bị cáo điều khiển xe gắn máy Yamaha Sirius biển số 59Y3-477.96 chở bà Tôn Nữ Bảo Tr đến phòng trọ của ông Phạm Văn H tại địa chỉ số 28, đường số 192, tổ 8, ấp 2, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để xin tiền. Khi đến nơi, bà Tr ngồi trông xe phía ngoài đường, bị cáo đi bộ vào trong phòng trọ của ông H nhưng khóa cửa nên bị cáo đi về. Lúc đi ngang qua cửa sổ nhà bà Vũ Thị L, nhìn thấy trên bàn có để 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen, dưới nền gạch có bà Khổng Thị B (mẹ ruột bà L) đang nằm ngủ và 02 cháu nhỏ đang ngồi chơi. Bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đi vào từ cửa sau nhà lên phòng khách, lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay Dell màu đen cầm trên tay, đang trong lúc chuẩn bị tẩu thoát thì bà B cùng 02 cháu nhỏ phát hiện truy hô đuổi theo. Bị cáo chạy ra ngoài, giấu máy tính vào áo khoác rồi kêu bà Tr nổ máy chạy ra hướng đường tỉnh lộ 8 nhằm tẩu thoát. Do nghe thấy mọi người truy hô, bà Tr biết bị cáo vừa thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có khuyên nhủ bị cáo quay trở lại trả tài sản cho bị hại, bị cáo nói sẽ trở lại trả sau vì sợ bị đánh. Bị cáo chở bà Tr về lại phòng trọ nhưng sau đó bị cáo đã không trả lại tài sản đã trộm cắp và đem chiếc máy tính xách tay bán lại tại cửa hàng sửa chữa điện thoại di động “Trung Trực” tại địa chỉ số 01, đường tỉnh lộ 15, ấp 1A, xã T, huyện C, do ông Phạm Tấn T làm chủ với giá 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) tiêu xài, mua ma túy sử dụng. Sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Đối với bà Tôn Nữ Bảo Tr do bị cáo H rủ đi cùng nhằm mục đích để xin tiền, không có sự bàn bạc về việc trộm cắp tài sản và không được chia tiền đồng thời bà Tr cũng đã khuyên bị cáo trả lại tài sản cho bị hại nên không xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Đối với ông Phạm Tấn T khai nhận chỉ kinh doanh sửa chữa điện thoại, không mua máy tính xách tay của bị cáo H, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông H là phù hợp.
Bản kết luận định giá tài sản số 134/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự đã kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell core i3, màu đen trị giá 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). (BL 144,145).
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Trần Hoàng H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội. Bị cáo còn là người nghiện ma túy. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội và cũng tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy tốt.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Trần Hoàng H một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà L yêu cầu bồi thường số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho bà L 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- 01 điện thoại di động Samsung màu đồng, số Imei1: 3552231/08/284543/1; Imei2:3552321/08/284543/9 của bị cáo không dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp;
- 01 xe gắn máy Yamaha Sirius màu trắng xanh, số máy E32VE036213; số khung: RLCUE3710KY013510 bị cáo dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
- Đối với 01 biển số xe số 18S1-2494 Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị tách ra khỏi vụ án để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi điều tra và xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xem xét trong vụ án này.
Tang vật theo lệnh nhập kho vật chứng số 140, Phiếu nhập kho vật chứng số 140 cùng ngày 20/7/2020 của Công an huyện Củ Chi.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng H 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 09/6/2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động Samsung màu đồng, số Imei1: 3552231/08/284543/1; Imei2:3552321/08/284543/9;
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy Yamaha Sirius màu trắng xanh, số máy E32VE036213; số khung: RLCUE3710KY013510.
Tang vật theo lệnh nhập kho vật chứng số 140, PH nhập kho vật chứng số 140 cùng ngày 20/7/2020 của Công an huyện Củ Chi.
- Buộc bị cáo Trần Hoàng H có trách nhiệm bồi thường cho bà Vũ Thị Lựu số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Lựu có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Trần Hoàng H chậm giao tiền thì Trần Hoàng H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, buộc bị cáo Trần Hoàng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Củ Chi; - Chi cục THADS H.Củ Chi; - PC.53; - Nhà tạm giữ CA H.Củ Chi; - Đội CSĐTTH CA H.Củ Chi; - Sở Tư pháp TPHCM - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Túy Phượng Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Vũ Thanh Phương |