| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 169/2019/HS-ST Ngày: 19/7/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ng Nguy n Đ c Nhu n;
2. ng Ngũ Minh Lu n.
- Thư ký phiên toà: ng Nguy n Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thu n An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thu n An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 147/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Minh T, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: 789/46, tổ 3, tỉnh lộ 4, khu phố 5, phƣờng T, qu n T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 181/1 khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Ph t giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc M và bà Trần Thị Thu T; bị cáo có vợ tên Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 04/12/2018 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: ng Nguy n Văn C, sinh năm 1985; nơi cƣ trú: 180/3 khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Ngọc Y, sinh năm 1987; nơi cƣ trú: 180/3 khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
2. ng Đỗ Ngọc M, sinh năm 1977; nơi cƣ trú: 181C/1 khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Ngƣời làm ch ng:
1. Bà Lê Thị Ngọc Y, sinh năm 1987, vắng mặt.
2. Ông Đỗ Ngọc M, sinh năm 1977, vắng mặt.
3. Ông Nguy n Mạnh T, sinh năm 1954, có mặt.
4. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1978, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/7/2018, ông Nguy n Văn C và ông Đỗ Ngọc M có phát sinh mâu thuẫn và ông M lấy một khúc gỗ đánh vào vai trái của ông C. Ông C gi t khúc gỗ đánh trả lại ông M, lúc này ông M chạy vào nhà lấy võ chai bia ném trả. Sau đó, ông M đƣợc Trần Minh T – là con r của ông M đƣa đến bệnh viện chữa trị vết thƣơng, còn C quay về nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, các đối tƣợng tên Công, Phúc, Tấn (không rõ nhân thân, lai lịch) – là bạn quen biết với T đến nhà gặp T và T kể lại sự việc ông M đi đánh cho C, P, T nghe. Sau khi nghe xong, T nói để đi qua gặp C nói chuyện thì cả 04 ngƣời cùng đi qua nhà ông C. Khi đi, T mang theo 01 khúc gỗ hình tròn dài khoảng 1m, còn T mang theo 01 con dao phay bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ, một bề sắt bén, mũi nhọn, dài khoảng 38cm và 01 khúc gỗ hình vuông dài khoảng 1m. Khi đi vào sân nhà C và thấy C nên Phúc, Công, Tấn ôm và đánh ông C. Lúc này ông C vùng thoát ra, T dùng khúc gỗ đánh ông C. Sau đó, ông C bỏ chạy qua nhà của bà Lê Thị Ngọc Y, Trí cùng với nhóm thanh niên tiếp tục đuổi theo đánh C và T cầm con dao phay chém ông C từ trên cao xuống, ông C dùng tay trái đƣa lên đỡ nên bị chém trúng vào cánh tay trái. Khi đó, bà Y nhìn thấy C bị thƣơng tích nên tri hô, can ngăn thì T và nhóm thanh niên mang theo hung khí bỏ đi, ông C đƣợc đƣa đi cấp c u. Ngày 07/10/2018, Trần Minh T đến Cơ quan điều tra Công an thị xã Thu n An giao nộp 01 con dao phay và khai nh n hành vi gây thƣơng tích cho ông Nguy n Văn C vào ngày 15/7/2018.
V t ch ng thu giữ trong vụ án: 01 con dao phay bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ, một bên sắt bén, mũi nhọn, dài 38cm; 01 thanh gỗ bị gãy thành hai phần; 01 thanh gỗ bị gãy một đầu và 01 cây lau nhà bị cong quẹo.
Tại Bản kết lu n giám định pháp y về thƣơng tích số 302/2018/GĐPY ngày 14/8/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng xác định Nguy n Văn C bị sƣng bầm vùng chẩm, vết thƣơng khủy tay phải đã lành, không còn dấu tích nên không xác định đƣợc cơ chế; vết thƣơng đỉnh đầu trái: chiều trƣớc ra sau, hƣớng từ trên xuống, bờ không sắc gọn, khả năng do v t tày có cạnh gây ra; vết thƣơng mặt trƣớc trong 1/3 trên cẳng tay trái, đ t gân cơ gấp mặt trƣớc cẳng tay, đ t bó mạch thần kinh trụ: sẹo chiều nằm ngang, hƣớng từ phải qua trái, bờ sắc gọn, khả năng do v t sắc gây ra. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây ra hiện tại là 22%.
Tại Bản kết lu n giám định pháp y về thƣơng tích số 295/2018/GĐPY ngày 10/8/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng xác định ông Đỗ Ngọc M bị các chấn thƣơng phần mềm, xây xát da, sƣng bầm hiện đã lành, không còn vết thƣơng tích nên không xác định đƣợc cơ chế gây thƣơng tích. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây ra hiện tại là 0%.
Tại bản Cáo trạng số 163/CT-VKS-TA ngày 10/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thu n An đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo các điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời lu n tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Minh T. Đồng thời, đánh giá tính chất m c độ, h u quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Minh T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng và tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý v t ch ng: 01 con dao phay bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ, một bên sắt bén, mũi nhọn, dài 38cm; 01 thanh gỗ bị gãy thành hai phần; 01 thanh gỗ bị gãy một đầu và 01 cây lau nhà bị cong quẹo là công cụ bị cáo và các đối tƣợng không rõ nhân thân, lai lịch sử dụng để gây thƣơng tích cho bị hại và công cụ bị hại sử dụng để ngăn cản hiện không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với các đối tƣợng tên Công, Phúc, Tấn hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch; khi nào xác định sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi dùng thanh gỗ đánh ông Đỗ Ngọc M của ông Nguy n Văn C không đủ yếu tố cấu thành tội phạm không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông C là phù hợp quy định của pháp lu t.
Bị cáo thống nhất với lời lu n tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thu n An, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo m c án thấp nhất để bị cáo có cơ hội để chăm sóc vợ, con.
Bị hại xác định bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng nên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm. Bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt đến m c thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề bị cáo về với gia đình, chăm sóc cho vợ và con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thu n An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nh n tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm ch ng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết lu n:
Khoảng 20 giờ ngày 15/7/2018, tại địa chỉ 180/3 khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, Trần Minh T cùng một số đối tƣợng không rõ nhân thân, lai lịch dùng thanh gỗ và tay, chân đánh bị hại Nguy n Văn C, trong lúc đánh nhau bị cáo T dùng dao phay bằng kim loại dài 38cm chém bị hại Nguy n Văn C trúng vào cánh tay trái gây thƣơng tích cho ông C với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây ra là 22%.
Hành vi bị cáo sử dụng dao - là hung khí nguy hiểm theo quy định tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gây thƣơng tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể cho bị hại C là 22%. Đây là tình tiết định khung đƣợc quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nhƣ v y, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó,Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thu n An truy tố bị cáo về tội cố ý gây thƣơng tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn c , đúng ngƣời và đúng pháp lu t.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến s c khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp lu t, gây mất an ninh tr t tự xã hội tại địa phƣơng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nh n th c đƣợc hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp lu t nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ xem thƣờng pháp lu t và s c khỏe của ngƣời khác. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo m c án tƣơng x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo ra đầu thú và bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt đến m c thấp nhất cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự; bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, tr t tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ lu t Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
M c hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn c , đúng pháp lu t nên đƣợc chấp nh n.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại Nguy n Văn C số tiền 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Nguy n Văn C không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý v t ch ng: 01 con dao phay bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ, một bên sắt bén, mũi nhọn, dài 38cm bị cáo lấy của ông Đỗ Ngọc M; 01 cây lau nhà bị cong quẹo của bà Lê Thị Ngọc Y; 01 thanh gỗ bị gãy thành hai phần; 01 thanh gỗ bị gãy một đầu thu giữ trong vụ án là các công cụ bị cáo T cùng các đối tƣợng không rõ nhân thân lai lịch sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng; đồng thời, ông Minh và bà Yến không yêu cầu nh n lại nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với các đối tƣợng tên Tấn, Công và Phúc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thu n An tiếp tục xác minh nhân thân, lai lịch. Khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi dùng thanh gỗ đánh ông Đỗ Ngọc M của ông Nguy n Văn C không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thu n An không xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi nêu trên của ông C là phù hợp quy định của pháp lu t.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 48 Bộ lu t Hình sự, các Điều 106 và Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 03 (ba) năm tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án 19/7/2019.
Giao bị cáo Trần Minh T cho Ủy ban nhân dân phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp bị cáo Trần Minh T thay đổi nơi cƣ trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 69 Lu t Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về xử lý v t ch ng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh gỗ bị gãy thanh hai phần, 01 thanh gỗ bị gẫy một đầu, 01 cây lau nhà bị cong quẹo và 01 con dao phay bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ, dài 38cm.
(Theo biên bản giao nh n v t ch ng, tài sản ngày 13/6/2019 giữa Công an thị xã Thu n An với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thu n An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thu n An; - Chi cục THADS thị xã Thu n An; - Công an thị xã Thu n An; - Chánh án (để báo cáo); - Những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Kiệt |