vanban.org

Bản án 169/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U về phần hình ph t.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm i h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử ph t bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (30/10/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U về phần hình ph t.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2019/HS-PT
Ngày: 30-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;

- Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Luông;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 182/2019/TLPT-HS ngày 02/10/2019 đối với bị cáo Lê Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã U tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn H sinh năm 1992 t i tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp C thị trấn L, huyện T tỉnh Sóc Trăng; t m trú: Số 217/29 khu phố 4 Đường số 11 phường X quận Y Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1970 và bà Võ Thị Y sinh năm 1972; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không. Bị t m giữ từ ngày 13/4/2019 đến ngày 22/4/2019 bị cáo bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H: Ông Nguyễn Như T– Luật sư Công ty Luật TNHH MTV D thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai có mặt.

Ngoài ra trong v án còn có bị h i và 02 người có quyền lợi nghĩa v liên quan do không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng trưa ngày 12 tháng 4 năm 2019, N1 (không rõ nhân thân lai lịch) đến phòng trọ của Lê Văn H và rủ Lê Văn H “tối nay đi làm dầu không” nghe N1 nói vậy thì Lê Văn H biết là đi trộm dầu về bán nên đồng ý. Sau đó Lê Văn H hỏi N1 có rủ thêm ai đi cùng không thì N1 nói có rủ thêm 02 người tên K1 và T1 (không rõ nhân thân lai lịch) cùng thực hiện. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13 tháng 4 năm 2019 Lê Văn H điều khiển xe mô tô biển số 83P1-042.16 ch N1 đi từ phòng trọ của Lê Văn H đến địa bàn thuộc tỉnh Bình Dương tìm các xe tải đậu ven đường để trộm dầu. Khi đi đến khu vực vòng xoay P thuộc phường P, thị xã B tỉnh Bình Dương thì N1 có gọi điện tho i cho ai, Lê Văn H nghe không rõ. Sau đó, N1 bảo Lê Văn H đi đến khu công nghiệp Nam U thuộc phường K, thị xã U tỉnh Bình Dương. Khi đi đến đường D5, khu công nghiệp Nam U, thuộc phường K thị xã U tỉnh Bình Dương thì Lê Văn H và N1 nhìn thấy 01 xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95 do ông Nguyễn Xuân S điều khiển (thuộc s hữu của Công ty TNHH N) đang đậu bên lề đường. Cùng lúc này hai người b n của N1 là K1 và T1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) hiệu Dream đi đến vị trí của Lê Văn H và N1 và mang theo 07 can nhựa (lo i 30 lít) 01 ống nhựa đường kính 2cm, dài 7 2m 01 thanh sắt tròn dài 86cm, 01 thanh sắt vuông dài 87cm. T i đây N1 bảo Lê Văn H đứng cách vị trí xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95 với m c đích cảnh giới cho N1, T1 và K1 chiếm đo t dầu Lê Văn H đồng ý. Lúc này, N1, T1 và K1 cầm theo 07 can nhựa (lo i 30 lít) cùng các d ng c mang theo đi đến vị trí xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95, còn Lê Văn H đứng cảnh giới. Đến 05 giờ cùng ngày, N1, K1 và T1 vận chuyển dầu từ vị trí xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95 đến chổ Lê Văn H đang đứng để mang đi tiêu th thì bị ông Võ Thanh T và ông Trần Minh N là nhân viên bảo vệ của khu công nghiệp Nam U phát hiện Lê Văn H, N1, K1 và T1 có hành vi khả nghi nên đuổi theo bắt được Lê Văn H và giao Lê Văn H cho Công an phường K. Riêng N1, T1 và K1 đã bỏ ch y thoát. Ngày 13/4/2019 Công an phường K đã t m giữ Lê Văn H. Sau đó v án được chuyển cho Công an thị xã U giải quyết.

Về vật chứng thu giữ trong v án:

Ngày 13/4/2018 Công an phường K đã lập biên bản t m giữ đồ vật tài liệu. Cùng ngày Công an phường K lập biên bản giao nhận vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an thị xã U gồm:

+ 07 can nhựa (lo i 30 lít) (bên trong có chứa dầu)

+ 01 ống nhựa đường kính 2cm, dài 7,2m.

+ 01 thanh sắt tròn dài 86cm.

+ 01 thanh sắt vuông dài 87cm.

+ 01 xe mô tô biển số 83P1-042.16.

+ 01 điện tho i hiệu Nokia 105.

+ 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn H.

- Xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95 do Công ty N s hữu. Ngày 13/4/2019, Nguyễn Xuân S điều khiển xe đến khu vực đường D5, khu công nghiệp Nam U thuộc phường K thị xã U tỉnh Bình Dương thì bị Lê Văn H cùng đồng bọn trộm dầu. Ngày 06/5/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã U ra quyết định xử lý vật chứng số 93 trả l i cho Công ty TNHH N 235 5 lít dầu DO (0,05%S).

- Đối với xe mô tô biển số 83P1-042.16 thuộc s hữu của bà Nguyễn Thu A. Do Lê Văn H không có xe đi làm nên bà Nguyễn Thu A cho Lê Văn H mượn bà Nguyễn Thu A không biết Lê Văn H sử d ng xe đi trộm dầu. Ngày 27/5/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã U ra quyết định xử lý vật chứng số 93 trả l i cho bà Nguyễn Thu A 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen biển số 83P1-042.16 số máy JC435975956 số khung 322BY066909.

Ngày 09/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao cho Chi c c thi hành án dân sự thị xã U tỉnh Bình Dương: 07 can nhựa (lo i 30 lít); 01 ống nhựa đường kính 2cm dài 7 2m; 01 thanh sắt tròn dài 86cm; 01 thanh sắt vuông dài 87cm; 01 điện tho i hiệu Nokia 105 và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn H.

Theo bản kết luận định giá tài sản trong tố t ng hình sự số 113/KLTS-TTHS ngày 19/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố t ng Hình sự thị xã U kết luận: 235 5 lít dầu DO (0,05%S) có giá trị 4.022.340 đồng (bốn triệu không trăm hai mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị h i không yêu cầu bị cáo bồi thường.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã U tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử ph t bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt thi hành án khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 13/4/2019 đến ngày 22/4/2019.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29/8/2019 bị cáo Lê Văn H kháng cáo xin hư ng án treo.

T i phiên tòa đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn H đúng theo thời h n luật định nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xem xét theo thủ t c phúc thẩm là đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật. Về nội dung bị cáo có hành vi lén lút chiếm đo t dầu từ xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95 do ông Nguyễn Xuân Sđiều khiển thuộc s hữu của Công ty TNHH N trị giá dầu DO là 4.022.340 đồng. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi ph m tội như nội dung bản án sơ thẩm. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo 06 tháng tù theo quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo ph m tội đối với tài sản có giá trị không lớn tài sản đã được thu hồi trả l i cho bị h i nên bị cáo ph m tội nhưng gây thiệt h i không lớn Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là thiếu sót. Trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp được đơn xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo của bị h i xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và đủ điều kiện được hư ng án treo theo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử sửa nội dung của bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H trình bày ý kiến tranh luận: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi ph m tội bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo ph m tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bị cáo thực hiện hành vi ph m tội nhưng thiệt h i không lớn. Ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh khó khăn mẹ bị cáo bệnh nặng bị cáo đã ly hôn và đang nuôi con nhỏ nếu áp d ng hình ph t tù giam đối với bị cáo gia đình bị cáo sẽ càng khó khăn hơn. Ngày 28/10/2019 bị h i Nguyễn Xuân S có đơn xin giảm nhẹ hình ph t và xin cho bị cáo được hư ng án treo. Do đó kính mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hư ng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hư ng án treo để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/4/2019 t i Khu công nghiệp Nam U thuộc phường K thị xã U tỉnh Bình Dương Lê Văn H cùng với N1, T1, K1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đã có hành vi lén lút chiếm đo t dầu DO từ xe đầu kéo biển số 61C-140.95 kéo theo rơ mooc biển số 51R-220.95 số lượng dầu chiếm đo t là 07 can nhựa (lo i 30 lít) chứa 235 5 lít dầu DO (0 05%S) trị giá 4.022.340 đồng (theo Kết luận giám định tài sản trong tố t ng hình sự số 113/KTTS-TTHS ngày 19/4/2019).

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo về xin hư ng án treo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo cùng các đối tượng khác thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là dầu DO với số lượng 235,5 lít, trị giá 4.022.340 đồng. Xét về vai trò đồng ph m, bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng ph m thứ yếu là người cảnh giới cho các đối tượng khác thực hiện hành vi ph m tội. Sau khi ph m tội bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải bị cáo ph m tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn bị cáo có mẹ già và đang nuôi con nhỏ (do bị cáo đã ly hôn vợ); bị cáo có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng.

Ngoài ra, bị cáo ph m tội đối với tài sản có giá trị không lớn đã thu hồi trả l i cho bị h i. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm i h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm không áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là thiếu sót. Ngày 28/10/2019 bị h i Nguyễn Xuân S có đơn xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo được hư ng án treo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội biết ăn năn hối cải đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người ph m tội. Trường hợp của bị cáo Lê Văn H đủ điều kiện để cho hư ng án treo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội t o điều kiện cho bị cáo được tự cải t o sửa chữa bản thân làm người có ích cho xã hội.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã U tỉnh Bình Dương về phần hình ph t.

Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo là có cơ s nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn H không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U về phần hình ph t.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm i h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử ph t bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (30/10/2019).

Giao bị cáo Lê Văn H về Ủy ban nhân dân phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp giám sát giáo d c trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Lê Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.

2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội:

Bị cáo Lê Văn H không phải nộp.

3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ