vanban.org

Bản án 169/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sồng A S (Tên gọi khác: Sồng A X) phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày (25/4/2017). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sồng A S (Tên gọi khác: Sồng A X) phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 169/2017/HSST
Ngày 21/7/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Chinh và bà Lê Thị Chanh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Thị Nga, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên, kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên Sồng A S (Tên gọi khác: Sồng A X). Sinh năm 1988 tại huyện M, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Mông; đảng phái, đoàn thể: Không; tôn giáo: Không; con ông Sồng A G, con bà Lù Thị T; có vợ là Thào Thị D và có 03 con, con lớn nhất 07 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Sồng A S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4 năm 2017, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập làm nhiệm vụ tại tiểu khu 7, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu phát hiện Bùi Văn Q sinh năm 1980 và Hà Văn L, sinh năm 1981, đều trú quán: Tiểu khu A, xã C, huyện M đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu đỏ. Q và L khai nhận vừa sử dụng hết 04 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến) do Quang mua được của Sồng A S (Có lý lịch nêu trên) với giá 200.000 đồng.

Cùng ngày 25/4/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Mộc Châu đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Sồng A S về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ của Sái số tiền 200.000 đồng.

Quá trình điều tra Sồng A S khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 25/4/2017 S có được bán cho Q 04 viên hồng phiến với giá 200.000, số tiền 200.000đ thu giữ là tiền do S bán ma túy cho Q mà có. Về nguồn gốc hồng phiến có để bán cho Q, S khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được 04 viên Hồng phiến ma túy tổng hợp vào sáng ngày 25/4/2017 tại bản Pha Luông, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu với giá 120.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 06/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã truy tố Sồng A S về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Sồng A S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Sồng A S từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án: Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Sồng A S số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng hai test thử ma túy, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu đỏ.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo,

XÉT THẤY:

Tại phiên toà, bị cáo Sồng A S giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản vi phạm hành chính lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4 năm 2017; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 25/4/2017 bị cáo Sồng A S đã có hành vi bán trái phép 04 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến) với giá 200.000 đồng cho Bùi Văn Q thu lời bất chính 80.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu: Là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để kiếm lời. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp với hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên toà thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn Q và Hà Văn L là hành vi vi phạm hành chính. Công an huyện Mộc Châu đã xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng hai test thử ma túy, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu đỏ do vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền thu giữ của bị cáo là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Sồng A S (Tên gọi khác: Sồng A X) phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sồng A S 30 (Ba mươi) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày (25/4/2017).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Sồng A S số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng hai test thử ma túy, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu đỏ.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Sồng A S (X) phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ