- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Trường A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1689/2018/HNGĐ-ST Ngày: 09/11/2018. V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phước.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Mỹ Hồng;
2. Bà Lê Thị Tố Nữ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 877/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Trường A, sinh năm: 1985.
Thường trú: số 6A phủ Hoài Đ, đường Nguyễn D, phường Phú C, thành phố H, tỉnh T.
Địa chỉ: số 59/7 đường Bình G, xã Thuận G, huyện Thuận A, tỉnh B. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: ông Trần Ngọc C, sinh năm: 1989.
Thường trú: số 137/66 Đường số 11, khu phố 12, phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành phố H. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trường A trình bày:
Bà và ông Trần Ngọc C sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau có tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận số 296 do Ủy ban nhân phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành phố H cấp ngày 31/12/2015.
Đôi bên chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng không hòa hợp với nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông C không quan tâm chăm sóc, bỏ mặc bà. Đôi bên đã cùng bàn bạc để tìm hướng giải quyết nhưng vẫn không có kết quả nên đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Trường A yêu cầu được ly hôn với ông Trần Ngọc C.
Về con chung: Đôi bên không có con chung.
Tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ dân sự khác: bà Nguyễn Thị Trường A xác định không có.
Bị đơn: ông Trần Ngọc C đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nhưng ông C không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Trường A có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: ông Trần Ngọc C đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ, yêu cầu có mặt tại Tòa để tiến hành xét xử giải quyết việc ly hôn nhưng ông C vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Bình Tân thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Đưa vụ án ra xét xử và giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
Về nội dung: Xét quan hệ vợ chồng giữa bà A, ông C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà A. Về con chung: đôi bên không có; Về tài sản chung, nợ chung bà A không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: bà Nguyễn Thị Trường A có đơn yêu cầu ly hôn với ông Trần Ngọc C, ông C có địa chỉ tại số 137/66 Đường số 11, khu phố 12, phường Bình Hưng H, quận B, Thành phố H. Đây là vụ án dân sự về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Ngọc C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt tại tòa để Tòa án tiến hành xét xử giải quyết việc ly hôn giữa ông C với bà A nhưng ông C vắng mặt không rõ lý do; bà A có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố dụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Trường A và ông Trần Ngọc C tự nguyện kết hôn với nhau có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 296 do Ủy ban nhân phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành phố H cấp ngày 31/12/2015.
Bà A cho rằng trong quá trình chung sống bà A và ông C không hòa hợp với nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Ông C không quan tâm chăm sóc, bỏ mặc bà. Mặc dù bà A đã nhiều lần khuyên bảo và cho ông C cơ hội để sửa đổi nhưng vẫn không có kết quả nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Bà A và ông C hiện không chung sống với nhau và cũng không còn liên lạc với nhau nữa.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Như vậy, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương của hai vợ chồng, đôi bên phải thật sự tin yêu, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau đó vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của vợ chồng. Nhưng hiện tại bà A không còn tha thiết muốn sống chung với ông C nữa. Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải để đôi bên được hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng bà A vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn, ông C vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản nào phản hồi đối với yêu cầu của bà A. Nhận thấy, bà A và ông C đã không còn tôn trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và khả năng đoàn tụ là không có.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà A được ly hôn với ông C. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu tại phiên tòa.
Về con chung: Đôi bên không có con chung.
Tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ dân sự khác: bà Nguyễn Thị Trường A xác định không có.
Về án phí: Do yêu cầu được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 19, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Trường A.
- Về quan hệ vợ chồng: bà Nguyễn Thị Trường A được ly hôn với ông Trần Ngọc C. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 296 do Ủy ban nhân phường Bình Hưng H, quận Bình T, Thành phố H cấp ngày 31/12/2015 không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: bà A khai nhận đôi bên không có con chung.
- Tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ dân sự khác: bà Nguyễn Thị Trường A xác định không có.
2. Về án phí: bà Nguyễn Thị Trường A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền án phí, lệ phí số AA/2018/0029531 ngày 14 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự được thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.Bình Tân; - CCTHADS Q.Bình Tân; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đươngsự; - Lưu VP - HS (Mai). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Phước |