vanban.org

Bản án 1688/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N Thị H P Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1688/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Tiến Dũng

2/ Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 3068/2022/TLST-

HNGĐ ngày 07/12/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

2102/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 28/04/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà N Thị H P, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: Số N, Quốc lộ B, phường H, thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Ông N Minh V, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số N, Quốc lộ B, phường H, thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà N Thị H P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông N Minh V tự nguyện đăng ký kết hôn theo

giấy chứng nhận kết hôn số 137/2015, quyển số 01/2015 do UBND phường Bình Tân,

thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/10/2015. Thời gian đầu sống chung hạnh

phúc bình thường nhưng khoảng tháng 03/2017, thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, lý do là

ông V có người khác, bà bỏ qua và tha thứ nhưng tình cảm của ông V đối với bà nguội

lạnh nên bà không muốn kéo dài quá lâu tình trạng này. Vợ chồng đã sống ly thân từ

năm 2017 đến nay, trong thời gian ly thân hai bên có tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình

nhưng không thành. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng

đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông N Minh V;

- Về con chung: Có 01 con chung tên N G H (Nữ), sinh ngày: 14/02/2017, bà P

yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung;

- Về cấp dưỡng: Bà P không yêu cầu cấp dưỡng

- Về tài sản chung; nợ chung: Bà P xác định không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết;

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu nội dung khởi kiện ly hôn với ông V. Đồng

thời, xác nhận ngoài các chứng cứ giao nộp cho Toà án, tại phiên tòa bà không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác, các thủ tục về việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bị đơn, nguyên đơn đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

- Đối với bị đơn ông V đã được Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi

Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án, cũng không có ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến

mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành các thủ tục hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét

tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp về

hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào kết quả xác minh về tình trạng cư trú của Công an phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức thì bị đơn N Minh V có cư trú tại địa chỉ: Số 520/89, khu phố 6, Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn đã được toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt

không có lý do. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn;

2. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn, hội đồng xét xử nhận thấy.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà N Thị H P và ông N Minh V tự nguyện đăng ký

kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 137/2015, quyển số 01/2015 do UBND phường Bình Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/10/2015. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông, bà là hôn nhân hợp pháp.

Nhận thấy, theo trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, tại phiên họp kiểm tra

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bà P và ông V kết hôn tự nguyện, quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được, nguyên nhân do ông V có người khác bên ngoài, không còn tình cảm với bà. Bà P xác

nhận ngoài các chứng cứ giao nộp cho Toà án, không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào

khác, bà cho rằng ông V cũng biết biết sự việc bà yêu cầu ly hôn nhưng không hợp tác.

Tại phiên tòa, bà P trình bày nguyên nhân chính của việc bà yêu cầu ly hôn là do ông

V có người khác bên ngoài, bà đã tha thứ, hai bên gia đình cũng khuyên đoàn tụ gia

đình để con có cha mẹ, nhưng ông V không còn dành tình cảm cho bà, quan hệ vợ

chồng lạnh nhạt. Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn, đoàn tụ gia đình nhưng bà P

xác định hiện tình cảm vợ chồng đã không còn, bà kiên quyết giữ nguyên yêu cầu ly

hôn, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật đề nghị Tòa án giải quyết. Đối

với bị đơn, Tòa án tiến hành triệu tập nhiều lần theo quy định pháp luật để tham gia

phiên tòa nhưng ông V vắng mặt không có lý do, cũng không có bất cứ văn bản ghi

nhận ý kiến nào khác gửi cho Tòa án đối với yêu cầu ly hôn của bà P, điều này cho thấy

ông V cũng không còn sự quan tâm, không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân với

bà P;

Xét, vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan

tâm, chăm sóc nhau, vợ chồng thì phải chung sống cùng nhau, có tình nghĩa vợ

chồng nhưng theo những gì bà P thừa nhận tại Tòa án cho thấy quan hệ hôn nhân

lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung hiện không còn nên mục đích hôn

nhân cũng không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên

đơn là có cơ sở chấp nhận.

2.2. Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự cũng như giấy khai

sinh, tài liệu, chứng cứ do bà P cung cấp có cơ sở xác định con tên N G H (Nữ), sinh

ngày: 14/02/2017 là con chung của bà P và ông V. Bà P có nguyện vọng được nuôi

dưỡng con chung chưa thành niên. Về cấp dưỡng ghi nhận sự tự nguyện của bà P không

yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia

đình năm 2014 giao con chung cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.3. Về tài sản chung; nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39,

Điều 147, Điều 186, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điểm a Khoản 1

Điều 238, Điều 264, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 51, 53, 54, 56, 57, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N Thị H P

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà N Thị H P và ông N Minh V.

1.2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên tên N G H (Nữ), sinh ngày:

14/02/2017 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục;

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được

quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3 Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông V cấp

dưỡng nuôi con;

1.4. Về tài sản chung; nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà N Thị H P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm

ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007169 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà N Thị H P đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ