vanban.org

Bản án 168/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2025. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu N - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2026/HS-ST
Ngày 09 - 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chữ Cần.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Tuyết Nhung;

Bà Hoàng Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Hữu N sinh ngày 12/12/1995 tại tỉnh Gia Lai; số Căn cước công dân: 064095004199; hộ khẩu thường trú: thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Huy H (chết) và bà Vũ Thị S, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: ngày 20/02/2019, bị Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử phạt 750.000 đồng về hành “xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác” theo Quyết định số 1566 ngày 20/02/2019, nộp phạt ngày 27/02/2019;

Ngày 28/02/2025, bị Công an huyện B, tỉnh Bình Dương xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng của người khác” theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC, nộp phạt ngày 26/9/2025;

Bị truy nã theo Quyết định truy nã số A24705 ngày 22/11/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, đầu thú ngày 28/11/2025, sau đó bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Cơ sở C - Trại Tạm giam B, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973; thường trú: Xóm A, thôn B, xã T, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;

Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành C, bà Lê Nguyễn Hồng T, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Thanh Giáp T1, ông Mai Chung H1, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, Đặng Huy H2, Lương Thanh S1, Nguyễn Thành C, Bông Duy K, Lê Nguyễn Hồng T, Nguyễn Thị Kim A đi đến quán ăn tên “Lão Đ” tại đường Đ, khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ, để ăn, uống.

Khoảng 10 phút sau, Trần Hữu N, Đào Duy N1, Phạm Đức N2, Mai Chung H1, Nguyễn Thanh Giáp T1 cũng đi đến quán “Lão Đ” để ăn, uống và được chủ quán hướng dẫn vào bên trong quán S2. Do N1, N2 muốn ngồi ăn uống phía trước quán, đi ra đi vào quán lộn xộn, chửi thề nên H2 bực tức đứng lên nhìn về phía N1 hỏi “mày sao, mày sao, thích chửi thề không ?” nên giữa H2 và N1 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau.

Lúc này, H2 dùng tay cầm ghế nhựa của quán “Lão Đ” đánh hướng từ trên xuống vào nhóm người của N1 thì N2 lao vào dùng tay đánh H2. Thấy N2 đánh H2, K dùng tay đánh lại N2 nhiều cái. N2 và H2 xô đẩy nhau ra lòng đường ĐT747 rồi Nhân vật ngã H2 xuống lòng đường ĐT747. K tiếp tục dùng tay đánh N2.

Lúc này, N dùng tay phải lấy 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 40cm tại vị trí bếp của quán “Lão Đ” chạy đến chém nhiều nhát trúng vào vùng tay, chân của H2 gây thương tích. Thấy H2 bị chém, K lấy ghế nhựa đánh trúng 02 cái vào người của N, sau đó K bỏ chạy vào khu vực trước quán “Lão Đ”. N tiếp tục cầm dao đuổi chém H2 trên đường Đ.

Cùng lúc, N1 và N2 dùng tay đánh S1 nên S1 dùng ghế nhựa và tay đánh lại N1 và N2. N1 và N2 đuổi đánh S1 chạy ra giữa lòng đường ĐT747, gần khu vực vòng xoay C, cách vị trí quán “Lão Đ” khoảng 10 mét.

Lúc này, C, T và Kim A chạy theo để can ngăn thì Kim A bị N2 cầm chiếc dép màu đen quơ trúng vào mặt nên Kim A té ngã xuống đất. N cầm dao chạy đến cùng N1 đuổi đánh và chém S1 nhưng S1 bỏ chạy kịp lên khu vực vòng xoay C nên N không chém được.

Quá trình H2, S1, K, N1, N2, N đuổi đánh nhau trên đường ĐT747 tại khu vực vòng xoay C đã gây ảnh hưởng đến các phương tiện đang lưu thông qua khu vực này và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại đây.

Sau đó, T1, H1 đến can ngăn và điều khiển xe mô tô chở N, N1, N2 đi về phòng trọ của N1 tại ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). N vứt con dao đã chém H2 tại khu vực trước phòng trọ của N1 rồi bỏ đi đâu không rõ, còn H2 được K đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Ngày 21/10/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 02/UBND-CATT ngày 21/10/2024 về việc đề nghị xử lý nghiêm khắc đối với hành vi gây rối trật tự công cộng vào ngày 20/10/2024 tại khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 663 ngày 07/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B:

- Các kết quả chính:

+ Sây sát da vùng trán và khuỷu tay trái, đã lành.

+ Vết thương 1/3 dưới cẳng tay trái 6,6 x 0,1cm, vết thương lòng bàn tay phải 5,4 x 0,1cm, vết thương gối phải 3,3 x 0,2cm, đang lành.

- Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Huy H2 tại thời điểm giám định là: 05% (năm phần trăm).

- Cơ chế hình thành vết thương:

+ Vết thương lòng bàn tay phải, vết thương 1/3 dưới cẳng tay trái, vết thương gối phải: Sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắt gây ra.

+ Sây sát da vùng trán và khuỷu tay trái đã lành, không còn dấu tích nên không xác định được cơ chế hình thành vết thương.

Tại Kết luận giám định số 5113 ngày 27/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B: Trên phần lưỡi dao của con dao bằng kim loại dài 40cm được niêm phong gửi đến giám định có bám dính máu người. Phân tích được kiểu gen hoàn chỉnh của một người nam giới từ dấu vết máu người này và trùng với kiểu gen (ADN) của Đặng Huy H2.

Ngày 20/01/2025, Đặng Huy H2 có đơn xin bãi nại và yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự đối với sự việc bị đánh gây thương tích xảy ra ngày 20/10/2024 tại quán ăn do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Đặng Huy H2 03 năm 06 tháng tù, Lương Thanh S1 03 năm tù, Bông Duy K 02 năm 06 tháng tù cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Riêng Đào Duy N1, Phạm Đức N2 bị xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo.

Đối với Trần Hữu N, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, đến ngày 28/11/2025, đến Công an xã B, Thành phố Hồ Chí Minh đầu thú.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Cáo trạng số 200/CT-VKS.TU ngày 08/4/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Hữu N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hữu N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Hữu N đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Trần Hữu N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo Trần Hữu N không có ý kiến với phần luận tội của Viện Kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với xã hội, được lao động và chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan điều tra - Công an, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, truy tố, ban hành quyết định, văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, do xảy ra mâu thuẫn khi đến ăn uống tại quán ăn do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ tại đường ĐT747, khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh), Trần Hữu N cùng Đào Duy N1, Phạm Đức N2 đánh nhau với Đặng Huy H2, Bông Duy K, Lương Thanh S1. Trong đó, Đặng Huy H2, Lương Thanh S1, Bông Duy K dùng ghế nhựa, tay, chân đánh nhau với Đào Duy N1, Phạm Đức N2 và Trần Hữu N.

Đào Duy N1, Phạm Đức N2 dùng tay, chân đánh nhau với Đặng Huy H2, Lương Thanh S1, Bông Duy K. Riêng Trần Hữu N thì dùng dao đuổi chém Đặng Huy H2, Lương Thanh S1, gây thương tích cho Đặng Huy H2 tại các vị trí lòng bàn tay phải, cẳng tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%.

Hành vi của Đặng Huy H2, Bông Duy K, Lương Thanh S1, Đào Duy N1, Phạm Đức N2 và bị cáo Trần Hữu N cùng đuổi đánh lẫn nhau bằng tay chân, ghế nhựa và con dao bằng kim loại tại quán ăn của ông Nguyễn Văn Đ, tiếp giáp đường giao thông trên đường vào khung giờ nhiều phương tiện tham gia giao thông (ĐT747), khu vực tập trung đông người ăn uống, di chuyển, gây ảnh hưởng đến việc di chuyển, kinh doanh của quán ăn của ông Nguyễn Văn Đ.

Tại Công văn số 02/UBND-CATT của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương ngày 21/10/2024, xác định nơi xảy ra vụ án là trung tâm của khu vực, giáp ranh nhiều xã, phường, tập trung nhiều quán ăn, đề nghị Cơ quan tiến hành tố tụng xử lý nghiêm khắc đối với hành vi gây rối trật tự công cộng, để kịp thời răn đe, tuyên truyền, tránh các trường hợp vi phạm pháp luật tương tự xảy ra.

Căn cứ vào hành vi sử dụng hung khí rượt đuổi, tấn công lẫn nhau, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Hữu N về tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung hình phạt là “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về vai trò: Bị cáo Trần Hữu N là người tiếp nhận ý thức, tích cực dùng hung khí là dao cùng với Đào Duy N1, Phạm Đức N2 đánh nhau với Đặng Huy H2, Bông Duy K, Lương Thanh S1, trong đó bị cáo là người trực tiếp gây thương tích cho Đặng Huy H2, là đồng phạm tích cực nhất trong việc đuổi đánh nhau giữa 02 nhóm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Hữu N đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn, khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo Trần Hữu N từng bị Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử phạt 750.000 đồng về hành “xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác” theo Quyết định số 1566 ngày 20/02/2019.

Hành vi của bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến những quy tắc, trật tự công cộng do Nhà nước quy định, gây hoang mang trong đời sống nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, đe dọa xâm phạm đến những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hiện nay, tình trạng tập trung đông người, sử dụng vũ khí, hung khí để giải quyết mâu thuẫn tại địa phương đang diễn ra hết sức phức tạp. Bị cáo sau khi phạm tội, đã bỏ trốn trong thời gian dài, khi bị truy nã mới ra đầu thú, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với hành vi thương tích cho Đặng Huy H2: Do Đặng Huy H2, bị thương tích với tỷ lệ 5% và không yêu cầu khởi tố nên hành vi chưa đủ căn cứ xử lý hình sự theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, do đó, Công an huyện B, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 28/02/2025 xử phạt bị cáo Trần Hữu N 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng của người khác” là phù hợp.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 và khoản 6 Điều 2 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 thì dao có tính sát thương cao khi được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khí quân dụng. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025. Do hành vi sử dụng dao để gây thương tích cho Đặng Huy H2 của bị cáo Trần Hữu N được thực hiện vào ngày 20/10/2024, trước ngày quy định nêu trên có hiệu lực pháp luật, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không khởi tố, xử lý bị cáo Trần Hữu N về tội “Sử dụng vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Đối với Mai Chung H1, Nguyễn Thanh Giáp T1, Nguyễn Thành C, Lê Nguyễn Hồng T và Nguyễn Thị Kim A khi xảy ra đánh nhau chỉ vào can ngăn, không có hành vi hô hào, xúi giục hay lôi kéo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh về mức hình phạt đối với bị cáo Trần Hữu N là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 1, 2 Điều 260; Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Hữu N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2025.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết:

Buộc bị cáo Trần Hữu N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ