vanban.org

Bản án 168/2026/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Hoàng Mạnh H chấm dứt hành vi thu thập và sử dụng trái phép hình ảnh, video clip có hình ảnh của bà Nguyễn Dương Yến N (sinh năm 1996, CCCD số: 093196000079) nhằm làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn D… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm đối với hình ảnh"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – CẦN THƠ
Bản án số: 168/2026/DS - ST
Ngày: 21/4/2026
V/v: Yêu cầu chấm dứt
hành vi xâm phạm quyền của
cá nhân đối với hình ảnh.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân

1. Ông Phạm Ngọc Hà

2. Bà Trần Thị Thu

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2026/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2026 về việc tranh chấp “Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2026/QĐST-DS ngày 13/3/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 235/2026/QĐST -DS ngày 08/4/2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Dương Yến N, sinh năm 1996 (CCCD số 093196000079)

Địa chỉ: 7 L, phường N, thành phố Cần Thơ

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Ngọc Huỳnh N1, sinh năm 1999 (có mặt)

Địa chỉ: H N, phường N, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Hoàng Mạnh H, sinh năm 1999 (CCCD số 092099004268)

Địa chỉ: Đối diện số A B, phường P, thành phố Cần Thơ

(Bị đơn có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn, đại diện nguyên đơn trình bày:

Bà N hiện là nhân viên của Công ty C và không có quan hệ quen biết gì đối với ông Hoàng Mạnh H, tuy nhiên không biết vì lý do gì ông H lại có hành vi dùng fly cam quay phim, chụp ảnh của bà N và làm đơn tố cáo bà N và ông Nguyễn Mạnh H1 – Tổng Giám đốc Công ty C đến các cơ quan Đảng cho rằng bà N và ông H1 có hành vi không trong sáng, vi phạm đạo đức. Các đơn tố cáo của ông H phía Ủy bản kiểm tra thuộc Đảng ủy tổng công ty H2 đã có thông báo kết luận giải quyết đối với ông Nguyễn Mạnh H1, nội dung giải quyết khẳng định tố cáo của ông H là sai sự thật nhưng ông H vẫn tiếp tục dùng các hình ảnh, video quay được tiếp tục gửi đến các cơ quan chức năng khác tố cáo bà N và ông H1. Việc làm này của ông H làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm của bà N và ông H1. Do vậy nguyên đơn khởi kiện buộc ông Hoàng Mạnh H chấm dứt việc sử dụng video clip, hình ảnh cá nhân đã quay lén, chụp lén bà Nguyễn Dương Yến N cung cấp cho các cơ quan tổ chức tố cáo sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của bà N.

Phía bị đơn – ông H trình bày tại bản tự khai và biên bản hòa giải:

Ông không có mối quan hệ gì với bà N cũng như ông Nguyễn Mạnh H1. Ông biết bà N do có thời gian làm việc thời vụ tại Cảng Cái C thuộc Cảng C. Ông xác định ông chính là người quay phim, chụp ảnh và gửi các video clip có hình ảnh của bà N và ông H1 gửi đến các cơ quan chức năng để tố cáo bà N và ông H1, vì cảm thấy bức xúc với quan hệ không trong sáng của bà N và ông H1, vì ông H1 là người có gia đình nhưng lại quan hệ bất chính với người khác. Phía tổng công ty H2 có mời ông đến làm việc 02 lần và thông báo kết quả tố cáo cho ông là chưa đủ cơ sở để kết luận bà N và ông H1 có hành vi như trong đơn của ông đã nêu. Tuy nhiên ông không đồng ý với kết quả giải quyết này nên đã tiếp tục gửi đơn tố cáo bà N và ông H1 đến Thanh tra Chính phủ, hiện Thanh tra Chính Phủ có gửi cho ông P chuyển số 4567 ngày 29/12/2025 nội dung là chuyển khiếu nại tố cáo của ông đến Văn phòng C1 để phân loại xử lý. Hiện ông chưa nhận được kết quả giải quyết theo đơn tố cáo nêu trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông không có ý kiến và khẳng định vẫn sẽ tiếp tục dùng các hình ảnh, video clip thu thập được làm chứng cứ gốc, không cắt ghép để gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết hành vi của bà N và ông H1. Bà N không có quyền kiện ông khi chưa có kết luận cuối cùng của cơ quan Đ về đơn tố giác của ông.

Tại phiên tòa:

Bị đơn có đơn xin vắng mặt

Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu về việc buộc bị đơn chấm dứt hành dùng hình ảnh của nguyên đơn gửi đi các cơ quan chức năng, kèm theo đơn tố cáo vu khống sai sự thật, làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của phía nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn không được dùng hình ảnh, video clip có hình ảnh của nguyên đơn nhưng nguyên đơn chưa cung cấp được cụ thể đó là những hình ảnh, video clip nào nhằm chứng minh rằng việc bị đơn sử dụng những hình ảnh đó làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy chưa đủ căn cứ để xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả được thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Phía bị đơn có văn bản trình bày ý kiến, có tham gia phiên hòa giải công khai chứng cứ và có đơn xin giải quyết vắng mặt, đây là sự tự định đoạt của đương sự không trái với quy định của pháp luật. Do vậy có căn cứ để đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự về “Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh” giữa cá nhân với cá nhân. Tranh chấp này do Bộ luật dân sự điều chỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2- Cần Thơ theo quy định tại khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc bị đơn chấm dứt hành vi sử dụng hình ảnh, video clip có hình ảnh của nguyên đơn để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật, xâm phạm đến danh dự, uy tín của nguyên đơn:

Về tài liệu chứng cứ: Phía bị đơn ông Hoàng Mạnh H thừa nhận ông chính là người chụp ảnh, quay phim bà Nguyễn Dương Yến N (nguyên đơn) và gửi các hình ảnh này kèm theo đơn tố cáo đến các cơ quan nhằm tố cáo bà N và ông Nguyễn Mạnh H1 có quan hệ không trong sáng. Bị đơn cũng thừa nhận phía Tổng công ty H2 đã mời ông đến để thông báo kết quả tố cáo, tuy nhiên ông không thống nhất với kết quả giải quyết này nên đã gửi tiếp đơn và hình ảnh của bà N đến Thanh tra chính phủ (bị đơn cung cấp phiếu chuyển số 4567 ngày 29/12/2025 của Văn phòng C1). Do vậy đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phía bị đơn khẳng định tại buổi hòa giải, công khai chứng cứ ngày 30/01/2026 tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ là vẫn tiếp tục dùng các hình ảnh, video có hình ảnh của bà N mà ông đã thu thập được để tiếp tục gửi đơn tố cáo bà N và ông H1 đến các cơ quan khác để tố cáo bà N và ông H1, dù bị đơn cũng thừa nhận là không quen biết, không có mối quan hệ gì với nguyên đơn cũng như ông Nguyễn Mạnh H1 (người bị đơn nhắc đến trong đơn tố cáo cũng với bà N). Bị đơn đã được Tổng công ty H2 mời đến thông báo kết quả trả lời của Ủy ban kiểm tra thuộc Đảng ủy Tổng công ty H2 về đơn tố cáo của ông là “không đúng sự thật”, nhưng hiện vẫn tiếp tục gửi đơn khiếu nại, hình ảnh của nguyên đơn đến các cơ quan khác, trong đó có cơ quan Thanh tra Chính phủ (chứng cứ này do bị đơn tự cung cấp tại buổi hòa giải). Việc bị đơn tự ý quay video, chụp ảnh nguyên đơn rồi liên tục dùng những hình ảnh này gửi kèm đơn tố cáo, khiếu nại sai sự thật đến các cơ quan Đảng, cơ quan liên quan để tố cáo nguyên đơn, dù đã được xem xét trả lời đúng quy định về khiếu nại tố cáo, là hành vi sử dụng trái phép hình ảnh của cá nhân, xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại Điều 32 Bộ luật dân sự. Vì vậy phía nguyên đơn bảo vệ danh dự, uy tín và quyền dân sự của mình bằng việc khởi kiện buộc bị đơn chấm dứt hành vi xâm phạm, cản trở đối với quyền sở hữu về hình ảnh của nguyên đơn là có căn cứ để xem xét chấp nhận. Khi bản án có hiệu lực, trường hợp bị đơn vẫn cố tình vi phạm, đi quá giới hạn về quyền dân sự của cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 10 Bộ luật dân sự, lạm dụng quyền về dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật, thì có thể bị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật hình sự nếu có đủ căn cứ.

Đối với ý kiến nhận xét của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Cần Thơ về việc đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do nguyên đơn không cung cấp được những hình ảnh, video clip có hình ảnh của nguyên đơn đã bị phía bị đơn xâm phạm, sử dụng trái phép thì xét thấy: bị đơn thừa nhận các hình ảnh, video clip có hình ảnh của nguyên đơn là do bị đơn tự thu thập và sự thật đã chứng minh được bị đơn có sử dụng các hình ảnh này gởi đi các cơ quan liên quan. Nguyên đơn được biết vụ việc thông làm việc với các cơ quan mà bị đơn đã gởi đơn, do là người bị tố cáo trong đơn và không được các cơ quan này cung cấp hình ảnh mà phía bị đơn đã gởi kèm. Nên trong trường hợp tranh chấp cụ thể của vụ án này, việc yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp được các hình ảnh đã bị phía bị đơn xâm phạm là không cần thiết, các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, do Tòa án thu thập được qua Công văn phúc đáp số 70-CV/ĐU ngày 12/3/2026 của Đảng ủy Công ty Cổ phần C đã đủ căn cứ để chứng minh tranh chấp tố cáo giữa bị đơn và nguyên đơn là có thật. Từ phân tích trên cho thấy, đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát là chưa có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã đóng, bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228 và Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 10, 11, 14, 32, 34, 169 Bộ luật dân sự 2015.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Hoàng Mạnh H chấm dứt hành vi thu thập và sử dụng trái phép hình ảnh, video clip có hình ảnh của bà Nguyễn Dương Yến N (sinh năm 1996, CCCD số: 093196000079) nhằm làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Dương Yến N.

2. Án phí dân sự sơ thẩm

- Bị đơn phải chịu 300.000 đồng.

- Nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu số 0000090 ngày 05/012026 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 – Cần Thơ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ