- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNHĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 9 -2024 V/v: “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 292/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 2000.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện tại: Ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Tổ D, Ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Chị D, anh N vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị D trình bày :
Chị và anh Nguyễn Văn N xây dựng gia đình với nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 09/10/2018. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 04 năm. Bắt đầu từ năm 2023, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn nghiêm trọng. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 01 năm 2024 đến nay không thể hòa giải đoàn tụ được, tình cảm vợ chồng không còn. Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 22/12/2017.
Sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục giáo B, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay chị D đang làm công nhân và làm thêm nghề Nail, thu nhập mỗi tháng 12.000.000 đồng. Chị không đồng ý giao con cho anh N nuôi vì anh N đi làm nhưng thu nhập không ổn định, anh N khai thu nhập hàng tháng 10.000.000 đồng nhưng thực tế không có.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.
Chị Phạm Thị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 08/8/2024.
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày :
Anh và chị Phạm Thị D xây dựng gia đình với nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 09/10/2018. Thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn theo như lời trình bày của chị D là đúng. Chị D bỏ nhà đi từ tháng 01 năm 2024 đến nay không quay về đoàn tụ cùng gia đình. Nay chị D yêu cầu ly hôn thì anh N đồng ý với điều kiện anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 22/12/2017.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 22/12/2017. Kể từ khi ly thân cháu An sinh S cùng với chị D và gia đình nhà ông bà ngoại. Nếu ly hôn anh N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo A và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm tài xế xe tải, thu nhập hàng tháng 10.000.000 đồng.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Diễm .
Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Phạm Thị D, giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 22/12/2017 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Văn N tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, về nợ chung : Các đương sự khai không có nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng :
- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị D. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh N.
- Quan hệ pháp luật: Chị Phạm Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn N. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn N là bị đơn trong vụ án hiện đang cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Văn N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 80/2018 ngày 09/10/2018. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân giữa chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Văn N là hôn nhân hợp pháp.
Chị D yêu cầu xin ly hôn anh N vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh N đã trầm trọng, xảy ra nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, anh chị đã ly thân từ tháng 01 năm 2024 đến nay. Anh N đồng ý ly hôn với yêu cầu được quyền nuôi con.
Xét thấy, sau khi Tòa án hòa giải ngày 17/6/2024, chị D và anh N cũng không bàn bạc đoàn tụ được, chị D kiên quyết xin ly hôn với anh N, anh N đồng ý ly hôn với yêu cầu anh được quyền nuôi con, chứng tỏ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014, xử cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 22/12/2017. Chị D và anh N tranh chấp nuôi con. Từ tháng 01/2024, chị D là người trực tiếp nuôi cháu A, hiện cháu A còn nhỏ, thời gian qua cháu A được chị D nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Vì vậy, giao cháu A cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị D nuôi con không yêu cầu anh N cấp dưỡng nên không xét.
Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai có nên không xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị D phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử : 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị D, xử cho chị D được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 22/12/2017 cho chị Phạm Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm thời anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014. 3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0015567 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị D đã nộp đủ án phí.
5. Chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND T. Đồng Nai. THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND H. Long Thành. - THA H. Long Thành. - UBND nơi đăng ký kết hôn. - Các đương sự. - Lưu. | Nguyễn Thị Kim Liên |