vanban.org

Bản án 168/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim O.

Buộc bà Lý Thị Duy C phải trả cho bà Huỳnh Thị Kim O số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Huỳnh Thị Kim O"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim O.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/DS-ST
Ngày: 14 - 5 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Tố

2. Bà Trần Thị Thu Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định: Không tham gia.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 494/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim O, sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Bà Lý Thị Duy C, sinh năm 1992

Địa chỉ: Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

(Bà O có đơn xin xét xử vắng mặt, bà C vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim O trình bày:

Vào ngày 22/01/2023, bà Huỳnh Thị Kim O có cho bà Lý Thị Duy C mượn số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) trong thời hạn 10 ngày. Thời gian qua bà O có nhiều lần yêu cầu bà C trả số tiền trên nhưng bà C vẫn không trả. Nay bà O yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C trả số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) khoản nợ gốc và không yêu cầu tính lãi suất.

- Bị đơn bà Lý Thị Duy C: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến gì đối với nội dung khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Việc bà Huỳnh Thị Kim O khởi kiện bà Lý Thị Duy C yêu cầu thanh toán tiền còn nợ do vậy xác định đây là tranh chấp dân sự, về quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Lý Thị Duy C có nơi cư trú tại: Khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ; Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự cho bị đơn, tuy nhiên bà Lý Thị Duy C vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà O, bà C là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn trả số tiền 20.000.000 đồng thì thấy rằng:

Theo giấy mượn tiền nguyên đơn cung cấp thể hiện ngày 22/01/2023, bà Lý Thị Duy C vay của bà Huỳnh Thị Kim O số tiền 20.000.000 đồng. Lúc vay tiền bà C có viết giấy mượn tiền nên việc vay tiền giữa hai bên là có, phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Trong giấy vay tiền hai bên có thỏa thuận thời gian trả là 10 ngày, không thỏa thuận tiền lãi, nên đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, không có lãi. Hết thời hạn 10 ngày, bà O hỏi nợ nhưng bà C không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay bà O kiện yêu cầu bà C trả số tiền 20.000.000 đồng nợ gốc và không yêu cầu trả lãi suất là có căn cứ chấp nhận.

Đối với bị đơn bà Lý Thị Duy C: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà C nhưng bà C vẫn không có mặt tại Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ gì chứng minh đã trả một phần hay toàn bộ số tiền đã vay của bà O. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự có thể khẳng định chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là hợp lệ. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với Điều 463, 466 và 470 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận là có căn cứ.

Do đó Hội đồng xét xử cần tuyên buộc bà Lý Thị Duy C phải trả cho bà Huỳnh Thị Kim O số tiền 20.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của bà O được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí trên số tiền buộc trả cho bà O là 20.000.000 đồng x 5% bằng 1.000.000 đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 và khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim O.

Buộc bà Lý Thị Duy C phải trả cho bà Huỳnh Thị Kim O số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà C phải nộp số tiền án phí là 1.000.000đ (một triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Kim O số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) bà O đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006101 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ