vanban.org

Bản án 168/2023/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ngô Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.

Võ Tấn C02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2022. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tấn C và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Ngô Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2023/HS-ST
Ngày: 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Quốc Hưng

2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2023/HSST ngày 03 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Võ Tấn C (tên gọi khác: Bò con) giới tính: nam; sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: X, tổ Y, khu phố Z, phường T, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Võ Văn B và bà: Nguyễn Hồng S; hoàn cảnh gia đình: bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị M và 02 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016);

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 13/7/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/10/2020.

Nhân thân:

- Ngày 10/4/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2018

- Ngày 05/9/2022, bị cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 khởi tố tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/9/2022 (có mặt)

2/ Ngô Văn L; giới tính: Nam; sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: X, đường G, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Ngô Văn H và bà Nguyễn Thị Kim V; hoàn cảnh gia đình: bị cáo có vợ ( đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2009);

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 20/02/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 21/8/2021 chấp hành xong

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/10/2022

Bị hại: Bà Giảng Thị Mỹ LX, sinh năm 1984

Địa chỉ: X, đường Y, khu phố N, phường L, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Tấn C và Ngô Văn L quen biết nhau từ trước. Tối ngày 31/8/2022, Võ Tấn C đi đến vòng xoay Phú Hữu, thành phố Thủ Đức gặp Ngô Văn L để cùng nhau uống rượu. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 86B7-149.18 của C chở C đi thuê khách sạn (không nhớ rõ địa chỉ) để sử dụng ma túy. Tại đây, L rủ C đi tìm tài sản của người khác để sơ hở sẽ lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài, C đồng ý. L điều khiển xe biển số 86B7-149.18 chở Cđi vào khu vực cảng Phú Hữu, thành phố Thủ Đức tìm tài sản. Đến khoảng 04 giờ ngày 01/9/2022, khi cả hai đi đến trước chòi bán nước không số, đường Nguyễn Thị Tư, tổ 4, khu phố 4, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức thì L nhìn thấy xe mô tô biển số 63B6-187.22 của chị Giảng Thị Mỹ LX dựng trước chòi không có người trông coi nên dừng xe lại, C xuống xe đi đến dùng đoản phá cổ xe, L đứng phía ngoài cảnh giới. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 86B7-149.18 còn Cđều khiển xe vừa trộm được của chị LX chạy đến một khách sạn (không rõ địa chỉ) trên đường Kha Vạn Cân để nghỉ. Đến khoảng 12 giờ ngày 01/9/2022, Cđiều khiển xe đến trước nhà số 325A đường Kha Vạn Cân, khu phố 6, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức bán cho một người tên Bình (không rõ lai lịch) được 4.300.000 đồng. Cđi xe ôm công nghệ về lại khách sạn gặp L chia cho L 1.500.000 đồng rồi cả hai tiếp tục sử dụng ma túy, sau đó thì cả hai ra về.

Khoảng 09 giờ ngày 02/9/2022, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát hình sự Công an Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến giao lộ Calmette –Võ Văn Kiệt, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1 phát hiện Võ Tấn C và Ngô Văn L đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn, không xuất trình được giấy tờ chứng minh nên mời về trụ sở Công an Quận 1 làm việc. Trong quá trình làm việc thì Cvà L thừa nhận trộm cắp xe mô tô của chị Giảng Thị Mỹ LX như trên.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 chuyển tin báo vụ trộm cắp tài sản do Cvà L thực hiện tại chòi bán nước không số, đường Nguyễn Thị Tư, tổ 4, khu phố 4, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức thụ lý theo thẩm quyền. Tiến hành cho L và Cthực nghiệm điều tra, Cvà L mô tả đúng diễn biến hành vi lấy trộm xe của chị LX.

Ngày 05/9/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 đã khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Võ Tấn Ctrong 01 vụ án tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có xảy ra trên địa bàn Quận 1.

Ngày 24/10/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức khởi tố bị can đối với Võ Tấn C, Ngô Văn L, ra lệnh bắt bị can để tạn giam đối với Ngô Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 26/10/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức có Công văn số 4421 đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 nhập vụ án nhưng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 không phản hồi.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Cvà L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, Cvà L khai còn thực hiện các vụ trộm cắp khác nhưng hiện nay chưa xác định được bị hại.

Kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận, xe mô tô biển số 63B6-187.72 có giá trị 17.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSTP.TĐ ngày 31/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

- Các bị cáo Võ Tấn C và Ngô Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi như nội dung bản Cáo trạng ghi nhận.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhận định việc bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Trên cơ sở áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phạt Võ Tấn C01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”, và bị cáo Ngô Văn L 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, Kiểm sát viên cũng đề nghị xử lý phần tang vật theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không tham gia tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo Cvà bị cáo L đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo cũng không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.

Quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa thể hiện lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được… Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung vụ án như bản Cáo trạng ghi nhận, cụ thể:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Võ Tấn Cv à Ngô Văn L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 63B6-187.22 của chị Giảng Thị Mỹ LX có giá trị 17.000.000 đồng vào khoảng 04 giờ ngày 01/9/2022 tại chòi bán nước không số, đường Nguyễn Thị Tư, tổ 4, khu phố 4, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó thì bị bắt giữ.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo trong vụ án... để quyết định hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:

Xét các bị cáo ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cvà bị cáo L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do tổng tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án có giá trị 17.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo .

Hành vi của Võ Tấn C và Ngô Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

Tuy nhiên, xét tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo. Bị cáo Ngô Văn L phạm tội lần đầu, bồi thường khắc phục hâu quả nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi cân nhắc hình phạt.

Đối với bị hại bà Giảng Thị Mỹ LX đã nhận lại số tiền 8.500.000 đồng đền bù cho LX. Bà LX có đơn đề nghị giảm nẹ hình phạt cho các bị cáo và không có yêu cầu gì thêm

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô biển số 63B6-187.72 không thu hồi được nên không đề cập đến.

Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm truy tố của bản Cáo trạng và lập luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt:

Ngô Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt:

Võ Tấn C02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2022.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ