- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2023/HS-ST Ngày: 17-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
2/ Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thi xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1980, tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Nh, sinh năm 1956 và bà Trần Thị N, sinh năm 1955; bị cáo có vợ tên Hoàng Thị H, sinh năm 1979; bị cáo có 03 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 07/6/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 tháng 14 ngày tù (thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam) về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 24/12/2011. Bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/10/2012.
- Ngày 23/01/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 02/10/2014. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/01/2017; bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung ngày 25/6/2015 và ngày 21/7/2015.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1990; HKTT: Khu phố Q, thị trấn E, huyện R, tỉnh Bình Dương. Chỗ ở hiện nay: Khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1979; HKTT: Khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
+ Ông Phạm Hồng Tr, sinh năm 1979; HKTT: Khu phố T, phường Y, thành phố U, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn T là đối tượng nghiện ma túy và bị cáo sinh sống tại căn nhà số 88 khu nhà phố VĐ1, thuộc khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 11 giờ ngày 09/4/2023, bị cáo nhìn thấy gia đình ông Lê Văn T1 sống tại căn nhà số 89 khu nhà phố VĐ1, thuộc khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương đi vắng nên bị cáo nảy sinh ý định đột nhập vào nhà ông T1 tìm tài sản lấy trộm nhằm đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Để thực hiện ý định, bị cáo liền đi đến mở tủ điện trước nhà ông T1 ngắt cầu dao điện nhằm mục đích tránh bị camera phát hiện. Sau đó, bị cáo đi bộ vòng ra phía sau nhà ông T1 và nhặt 01 cây gỗ cạnh đó cầm cạy bung cửa sổ nhà bếp rồi trèo vào bên trong. Bị cáo đi lên lầu 1, vào phòng ngủ của vợ chồng ông T1 lục tìm lấy được 01 vòng vàng TS Ý PNJ 45 không gắn đá, HLV 75%, trọng lượng 51,346 gam để trên bàn trang điểm và 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám rồi đem về nhà cất giấu. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/4/2023, bị cáo đem vòng vàng TS Ý PNJ 45 không gắn đá, HLV 75% đến tiệm vàng HT, cạnh đường TH, thuộc phường Y, thành phố U, tỉnh Bình Dương do ông Phạm Hồng Tr làm chủ bán được 19.000.000 đồng. Bị cáo dùng tiền bán được tiêu xài cá nhân hết. Riêng máy tính Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám, bị cáo cất giấu dưới gầm ghế Sôfa trong phòng khách nhà bị cáo.
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 09/4/2023, ông Lê Văn T1 về nhà phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Công an phường B, thị xã C trình báo sự việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.
Đến ngày 15/4/2023, bị cáo Trần Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đầu thú và giao nộp 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám.
Vật chứng thu giữ: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám.
Theo Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã C, kết luận: 01 vòng vàng TS Ý PNJ 45 không gắn đá, HLV 75%, trọng lượng 51,346 gam trị giá là 30.500.000 đồng; 01 máy tính bảng Apple Ipad pro 11 inch bản 256GB màu xám trị giá 7.375.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 30/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám cho ông Lê Văn T1.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/6/2023, bà Hoàng Thị H là vợ của bị cáo Trần Văn T đã thỏa thuận bồi thường xong cho ông Lê Văn T1 số tiền 28.651.440 đồng và ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Ông T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 182/CT-VKS-BC ngày 31/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm – 02 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Ngày 30/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám cho ông Lê Văn T1 là phù hợp nên không đề cập xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/6/2023, bà Hoàng Thị H là vợ của bị cáo Trần Văn T đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại ông Lê Văn T1 số tiền 28.651.440 đồng và bị hại ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 182/CT-VKSBC ngày 31/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân nhân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình chăm sóc cha mẹ già.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại ông Lê Văn T1 trình bày: Ông đã nhận lại 01 máy tính bảng Apple Ipad pro 11 inch bản 256GB màu xám và được gia đình bị cáo bồi thường giá trị vòng vàng TS Ý PNJ 45 không gắn đá, HLV 75%, trọng lượng 51,346 gam là 28.651.440 đồng. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị mất và bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị H trình bày: Ngày 30/6/2023, dưới sự tác động của chồng bà là bị cáo Trần Văn T . Bà đã đứng ra thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại số tiền 28.651.440 đồng. Nay bà không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Hồng Tr trình bày: Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để xét xử vắng mặt ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 09/4/2023, tại căn nhà số 89 khu nhà phố VĐ1, thuộc khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 vòng vàng TS Ý PNJ 45 không gắn đá, HLV 75%, trọng lượng 51,346 gam và 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám có tổng trị giá 37.875.000 đồng của bị hại ông Lê Văn T1. Sau đó, bị cáo đem bán vòng trang sức lấy tiền tiêu xài, còn máy tính bảng cất giấu tại nhà riêng của bị cáo. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 182/CT-VKS-BC ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo Trần Văn T thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị báo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; một phần tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Ngày 30/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Pro 11 inch 256GB màu xám cho ông Lê Văn T1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận giải quyết xong mức bồi thường thiệt hại và bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bà Hoàng Thị H không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2023.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo:
+ Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/8/2023).
+ Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - CC THA thị xã Bến Cát; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA V Văn Quang Bảo |