vanban.org

Bản án 168/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Ng 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2022. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2022/HSST
Ngày: 23/9/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Minh;

Bà Trần Thanh Phương.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân HUYỆN NT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN NT tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân HUYỆN NT, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân HUYỆN NT tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2022/HSST, ngày 05 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 368/2022/HSST-QĐ ngày 30/8/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng Ng, sinh năm 2000 tại Cà Mau; Hộ khẩu thường trú: ấp TH, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 10/12; con ông: Nguyễn Minh H và bà Trần Mộng P; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/9/2020, bị Công an HUYỆN NT xử phạt hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐ-XPVPHC. Đã chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 17/9/2020.

Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ, tam giam từ ngày 15/4/2022 đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp Phú Nhơn, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Văn T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp Phú Nhơn, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

+ Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp Phú Nghĩa, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

+ Chị Lê Thị Tú A, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu phố 2, phường Vĩnh Thông, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Trần Thanh S ngụ tại ấp Phú Nhơn, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang và Phan Hữu Phước cùng làm công nhân tại bộ phận phối màu của công ty Jung Woo Vina thuộc khu Công nghiệp Dệt may Nhơn Trạch, HUYỆN NT, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc giữa anh Sang và Phước có xảy ra mâu thuẫn. Ngày 29/8/2020, Phước điện thoại cho Trần Văn Chính (là nhân viên bảo vệ của công ty Hoàng Kinh Đô) rủ Chính đến trước cổng công ty Jung Woo Vina để đánh anh Sang. Mặc dù không quen biết anh Sang nhưng Chính vẫn đồng ý và gọi điện thoại cho Lê Trọng Phúc (là nhân viên bảo vệ An ninh Đông Á) để rủ Phúc lên cổng công ty Jung Woo Vina đánh nhau giúp Phước nhưng do Phúc không nghe máy nên Chính tiếp tục điện thoại cho Nguyễn Trọng Ng (là nhân viên bảo vệ An ninh Đông Á), ngụ tại ấp TH, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, rủ Nguyễn lên cổng công ty Jung Woo Vina đánh nhau giúp Phước, Nguyễn đồng ý. Sau khi điện thoại cho Chính, Phước tiếp tục điện thoại cho Lê Trọng Phúc nhờ Phúc lên cổng công ty Jung Woo Vina đánh anh Sang, Phúc đồng ý, Phước điện thoại cho 01 người thanh niên tên Tèo (chưa rõ nhân thân) nhờ Tèo lên cổng công ty Jung Woo Vina đánh anh Sang, Tèo đồng ý.

Trong lúc làm việc, anh Trần Thanh S nghe những người cùng làm chung trong bộ phận phối màu nói cho anh Sang biết việc Phước điện thoại rủ người lên đánh anh Sang lúc tan ca. Anh Sang liền điện thoại cho anh ruột của mình là Trần Văn T, ngụ tại ấp Phú Nhơn, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang kể việc Phước rủ người đánh mình cho anh Tuấn nghe. Anh Tuấn điện thoại cho cháu ruột là anh Huỳnh Văn Đ, ngụ tại ấp Phú Nghĩa, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang lên cổng công ty Jung Woo Vina đón anh Sang, anh Đức đồng ý. Sau đó, anh Tuấn lấy 01 cây gậy dũ 03 khúc bằng sắt và 01 cây tuýp sắt dài khoảng 50cm đi đến trước cổng công ty Jung Woo Vina để đánh trả lại nhóm của Phước, Tuấn để 01 tuýp sắt và cây gậy dũ 03 khúc bằng sắt trên vỉa hè trước cổng công ty.

Vào khoảng 18 giờ ngày 29/8/2020, Lê Trọng Phúc điều khiển xe mô tô hiệu Airblade màu đỏ đen, biển số 69E1 – 474.38 chở Nguyễn Trọng Ng đi từ Công ty Uni Win thuộc khu công nghiệp 6, khi đi mỗi người cầm theo 01 cây dũ 03 khúc bằng sắt lên cổng công ty Jung Woo Vina, thì gặp Trần Văn Chính, chị Lê Thị Tú A (sinh năm 1998, vợ Chính), Phan Hữu Phước và Tèo mang theo 01 bao tải chứa dao đưa cho Phước và rủ 4 thanh niên (không rõ nhân thân) đang chờ anh Sang ra cổng để đánh. Thấy anh Sang đi ra cổng thì Phước cùng Chính, Nguyễn, Phúc, Tèo và 04 thanh niên (chưa rõ nhân thân) đi đến nói chuyện với anh Sang, trong lúc Phước đang nói chuyện thì 01 người thanh niên (chưa rõ nhân thân) cầm nón bảo hiểm ném vào mặt anh Sang ngã xuống đường, Phúc và Nguyễn cầm gậy dũ 03 khúc đánh vào anh Sang nhưng không trúng, thấy vậy anh Tuấn vào can ngăn thì bị nhóm của Phước cầm đá, Nguyễn cầm gậy dũ đánh trúng vào lưng anh Tuấn, anh Sang chạy lại lấy 01 cây tuýp sắt mà anh Tuấn để trước đó thì bị Phước và Chính dùng nón bảo hiểm đuổi theo khi thấy anh Sang cầm tuýp sắt thì Phước lấy 01 con dao dài khoảng 60cm tiếp tục dí đuổi anh Sang, anh Sang ngã thì bị Phước dùng con dao chém vào người, anh Sang đưa hai tay lên đỡ nên trúng vào hai tay. Lúc này một số công nhân hô lên: “Công an đến”, thì nhóm Phước bỏ đi về, riêng Sang được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai. Đến ngày 03/9/2020, anh Sang đến Công an khu Công nghiệp HUYỆN NT trình báo sự việc, Công an khu Công nghiệp Nhơn Trạch lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an HUYỆN NT để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số: 0836/TgT/2020 ngày 24/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận anh Trần Thanh S có thương tích như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương mẻ thân xương đốt gần ngón 02 bàn tay phải (Áp dụng Chương 7, mục nguyên tắc chung). Tỷ lệ: 03%.

- Sẹo mặt ngoài cổ tay trái kích thước 04 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục 1. 2). Tỷ lệ: 02%.

- Sẹo mổ 1/3 dưới cẳng tay trái nối liền vết thương cổ tay trái kích thước 4,5 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%.

- Sẹo ngón 1 mặt lưng bàn tay phải kích thước 4,5 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%.

- Sẹo mổ mở rộng ngón 1 nối liền vết thương cổ tay trái kích thước 1,5 x 0,1cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%.

- Sẹo mặt lưng ngón 2 bàn tay phải kích thước 03 x 0,2cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%.

- Sẹo mặt lưng ngón 3 bàn tay phải kích thước 2,5 x 0,2cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%.

2. Kết luận:

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Thanh S – Sinh năm 1996 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 11% (Mười một phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật sắc.

Tang vật vụ án gồm:

+ 01 cây gậy dũ 03 khúc bằng kim loại (đã bị gãy); 01 cây gậy dũ 03 khúc bằng kim loại dài 50 cm, cán màu đen dài 10cm.

+ 01 xe mô tô hiệu Airblade màu đỏ đen, biển số 69E1 – 474.38 của Nguyễn Trọng Ng.

+ 01 USB màu đỏ lưu trữ đoạn video vụ việc.

Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Trọng Ng và Lê Trọng Phúc đã bồi thường cho anh Trần Thanh S số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo thỏa thuận và anh Sang đã làm đơn bãi nại cho Bị cáo Nguyễn và Phúc.

Sau khi sự việc xảy, Phan Hữu Phước, Lê Trọng Phúc và Trần Văn Chính bị bắt, khởi tố, truy tố và xét xử. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2022/HS-ST ngày 24/3/2022, Tòa án nhân dân HUYỆN NT, tỉnh Đồng Nai đã tuyên:

+ Xử phạt: Phan Hữu Phước 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, Trần Văn Chính 03 (ba) năm tù và Lê Trọng Phúc 03 (ba) năm tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

+ Buộc Phan Hữu Phước phải bồi thường cho anh Trần Thanh S số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu) đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây gậy dũ ba khúc bằng kim loại là công cụ dùng vào việc phạm tội.

Đối với bị cáo Nguyễn đã bỏ trốn và bị truy nã, đến ngày 15/4/2022 bị bắt.

Đối với anh Trần Văn T bị Phan Hữu Phước, Nguyễn Trọng Ng dùng tay, gậy dũ ba khúc đánh trúng lưng nhưng không gây thương tích, anh Tuấn không có yêu cầu xử lý nên không đặt ra giải quyết.

Đối với Lê Thị Tú A không tham gia đánh nhau và có hành vi can ngăn Trần Văn Chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Đối với 01 chiếc điện thoại hiệu Sam sung Galaxy 4+ của Phan Hữu Phước, 01 chiếc điện thoại hiệu Sam sung, màu xanh nước biển của Nguyễn Văn Chính đã bán cho những người (không rõ nhân thân) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an HUYỆN NT không thu hồi được.

Đối với con dao dài khoảng 60cm mà Phan Hữu Phước sử dụng gây thương tích cho anh Sang và cây tuýp sắt anh Sang sử dụng để đánh nhau, do sau khi sự việc xảy ra Phước và anh Sang đã vứt mất, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

Đối với thanh niên tên Tèo và 04 thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 124/CT-VKSNT, ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN NT truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Ng từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô hiệu Airblade màu đỏ đen, biển số 69E1 - 47438 của Nguyễn Trọng Ng là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Các vật chứng thu giữ khác đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2022/HS-ST ngày 24/3/2022 của Tòa án nhân dân HUYỆN NT, tỉnh Đồng Nai. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng Ng thành khẩn khai báo; thừa nhận hành vi phạm tội như trong với quyết định truy tố theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN NT; không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Trọng Ng biết hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng:

Bị hại, Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của những người này đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, Người làm chứng.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Trọng Ng tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 29/8/2020, Phan Hữu Phước đã rủ Trần Văn Chính, Lê Trọng Phúc và 01 người đàn ông tên Tèo (chưa rõ nhân thân), Tèo rủ 4 thanh niên (chưa rõ nhân thân), Chính rủ Nguyễn Trọng Ng đến trước cổng Công ty Jung Woo Vina thuộc khu Công nghiệp Dệt may Nhơn Trạch, HUYỆN NT, tỉnh Đồng Nai để đánh anh Trần Thanh S. Tại đây, 01 thanh niên (chưa rõ nhân thân) dùng nón bảo hiểm đánh 01 cái vào người anh Sang. Anh Sang bỏ chạy thì bị Chính dùng nón bảo hiểm, Phúc, Nguyễn dùng 01 cây dũ 03 khúc bằng kim loại đuổi đánh anh Sang, khi anh Sang té ngã thì Phan Hữu Phước dùng 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm chém 01 nhát trúng vào 2 tay anh Sang gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 11%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng Ng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra.

. Vai trò của bị cáo: Bị cáo là đồng phạm với các bị cáo khác trong vụ án ,mang tính giản đơn, sau khi được bị cáo Phước và Chính rủ rê đánh anh Sang thì Nguyễn đồng ý, bị cáo cũng có hành vi dùng cây dũ 03 khúc đuổi đánh bị hại. Bị cáo tham gia với vai trò thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy đối với bị cáo cũng cần có một mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Trọng Ng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cần tịch thu sung quỹ nhà nước 01(một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ - đen - trắng, biển kiểm số 69E1 – 47438, số máy: 2680397, số khung: Z054647 của Nguyễn Trọng Ng là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Các vật chứng thu giữ khác đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2022/HS-ST ngày 24/3/2022 của Tòa án nhân dân HUYỆN NT.

Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đối với Lê Thị Tú A quá trình điều tra xác định Lê Thị Tú A không tham gia đánh nhau và có hành vi can ngăn Trần Văn Chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với anh Trần Văn T bị Phan Hữu Phước, Nguyễn Trọng Ng dùng tay, gậy dũ 03 khúc đánh trúng lưng nhưng không gây thương tích, anh Tuấn không có yêu cầu xử lý nên không đặt ra giải quyết.

Đối với thanh niên tên Tèo và 04 thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 326; Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng Điều 38; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Ng 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không đặt ra giải quyết.

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01(một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ - đen - trắng, biển kiểm số 69E1 – 47438, số máy: 2680397, số khung: Z054647.

(Hiện vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự HUYỆN NT quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 9 năm 2022).

Các vật chứng khác trong vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2022/HS-ST ngày 24/3/2022 của Tòa án nhân dân HUYỆN NT, tỉnh Đồng Nai.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo Nguyễn Trọng Ng phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn Trọng Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Trần Thanh S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ