vanban.org

Bản án 168/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tạm giam bị cáo Đào Văn N, Lê Văn T mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh (Mặt trước có ghi chữ: “Mẫu vật còn lại sau giám định, k…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn N, Lê Văn T tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 168/2022/HS-ST
Ngày: 29/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hoàn

Các Hội thẩm dân nhân: Ông Ngô Xuân Hải

Ông Nguyễn Đăng Thúy

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 29/7/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/2022/TLST-HS ngày 13/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2022/QĐXXST-HS ngày 15/7/2022 đối với các bị cáo:

1. Đào Văn N - Sinh năm 1985.

Nơi ĐHKTT: khu phố X, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam.

Trình độ văn hóa: 12/12;

Nghề nghiệp: Kinh doanh.

Con ông Đào Văn L, sinh 1954 và bà Nguyễn Thị Hồng, sinh 1960.

Có vợ là Dương Thị Th, sinh 1990 (đã ly hôn) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/8/2014 bị Công an thành phố Từ Sơn xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/3/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn T, sinh năm 1979

HKTT: thôn D, xã D, huyện Đông Anh, Tp Hà Nội

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam.

Trình độ văn hóa: 9/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Lê Văn L, sinh 1945 và bà Nguyễn Thị D, sinh 1950.

Có vợ là Chu Thị Kh, sinh 1980 và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 19/7/2004 bị Công an huyện Đông Anh xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc.

- Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/02/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Sỹ D, sinh 1979 (vắng mặt) HKTT: thôn P, xã D, huyện Đông Anh, Tp Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân N, T và D là bạn bè quen biết ngoài xã hội. N biết T và D có sử dụng ma túy. Hiện N đang làm chủ và trực tiếp quản lý tại khách sạn H có nhiệm vụ sắp xếp phòng cho khách nghỉ và thu tiền của khách. Ngày 16/02/2022 do khách sạn vắng khách nên khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, N có điện thoại cho D để mời D đến khách sạn thuê phòng để nghỉ, D đồng ý. Sau đó, D gọi điện thoại rủ Lê Văn T cùng đến khách sạn nghỉ, T đồng ý. T và D đi taxi đến khách sạn. Đến nơi, D đi vào khách sạn trước để làm thủ tục thuê phòng. D nói với N cho D và T thuê 01 phòng mục đích để nghỉ. Lúc này, T đi bộ ra khu vực vườn hoa đối diện khách sạn cách khoảng 30m. Tại đây, T gặp 01 nam thanh niên không quen biết, người này hỏi T có mua ma túy không, T liền nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. T mua của người này 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine với giá 3.400.000 đồng. T cất túi ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải. Khi T đi vào khách sạn thì thấy D và N đang nói chuyện với nhau, N bảo T và D lên phòng 306. Khi T và D lên phòng thì T gọi điện thoại rủ chị Nguyễn N Anh đến tâm sự, chị N Anh đồng ý. D gọi điện thoại rủ chị Lê Thị Liên đến tâm sự, chị L cũng đồng ý. Một lúc sau, Liên và N Anh lên phòng 306 gặp T và D. Tại đây, T nhìn thấy ở trong phòng có sẵn đĩa sứ, thẻ nhựa ở trên bàn nên nảy sinh ý định sử dụng ma túy vừa mua được. T lấy từ trong túi quần túi ma túy vừa mua được trước đó, đổ một ít ma túy ra đĩa sứ màu trắng, phần còn lại để trên kệ tủ trong phòng rồi dùng thẻ nhựa xào ma túy thành bột mịn. Mặc dù T không nói gì nhưng do bản thân trước đó đã từng sử dụng ma túy nên D biết T đang chuẩn bị sử dụng ma túy Ketamine. Lúc này, D gọi điện thoại bảo N mang 04 đôi dép lên để đi. T tiếp tục lấy tờ tiền 10.000 đồng của mình quấn thành ống hút để sử dụng ma túy. N mang dép lên phòng thì thấy T cho ống hút vào mũi và hít 02 đường ma túy vào cơ thể. Thấy N, T nói với N: “Làm đường cho vui”, ý T mời N sử dụng ma túy cùng T, N trả lời: “Thôi, anh cứ chơi đi”. Sau đó, T để đĩa sứ chứa ma túy và ống hút trên bàn rồi đi ra bật loa, đèn và nhắm mắt nằm nghe nhạc. D thấy trên đĩa sứ còn ma túy và T đang nằm nghe nhạc nên cũng tự lấy ống hút và đĩa sứ hít 02 đường ma túy vào cơ thể. N ở lại trong phòng khoảng 15 phút thì đi ra khỏi phòng. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày có lực lượng công an đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm:

- Thu giữ trên mặt bàn có 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên mặt đĩa có chất tinh thể màu trắng. Công an đã tiến hành thu giữ chất tinh thể màu trắng trên đĩa sứ cho vào 01 túi nilon (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu T1). Ngoài ra còn thu giữ trên mặt bàn 01 chiếc thẻ nhựa hình chữ N màu trắng và 01 ống hút hình tròn được quấn bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

- Thu giữ trên kệ tủ có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu T2).

T khai nhận chất tinh thể màu trắng ở đĩa sứ và trên kệ tủ là ma túy Ketamine của T, T tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác.

- 01 loa nhãn hiệu JBL màu đen, 01 đèn màu trắng, 01 đèn màu đen. N khai nhận đây là các trang thiết bị của khách sạn, N trang bị trong phòng để khách đến thuê phòng sử dụng vào việc nghe nhạc.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh đen, lắp sim số 0386.832.826 thu của T. T khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để liện lạc với chị N Anh và D đến khách sạn Happy Homestay chơi.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu trắng, lắp sim số 0978.379.986 thu của D. D khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với N, chị L và T đến khách sạn Happy Homestay chơi.

- Thu giữ tại quầy thanh toán tầng 2 của khách sạn 01 đầu thu camera màu đen nhãn hiệu DAHUA. N khai nhận đây là đầu thu camera N trang bị cho khách sạn để theo dõi khách ra vào.

Bản thân N đã thừa nhận cho D thuê phòng 306 của khách sạn để nghỉ nhưng khi lên phòng 306 đã nhìn thấy D và T sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng nhưng đã để mặc cho T và D sử dụng ma túy. Ngày 17/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Từ Sơn đã bắt tạm giam N. Quá trình bắt giữ, N giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1010, màu đen, lắp sim số 0877.178.187. N khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để rủ D đến thuê phòng khách sạn.

Tại bản kết luận giám định số 208/KLGĐMT-PC09 ngày 19/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu T1 có khối lượng là 0,0405 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu T2 có khối lượng là 1,8260 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.”.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,8665 gam ma túy Ketamine.

Với hành vi trên tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 08/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Đào Văn N ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để xét xử về tội “ Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 256 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, các bị cáo N, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu là đúng. Các bị cáo xác định bị truy tố, xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không có oan sai gì; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh D vắng mặt nhưng tại cơ quan điều tra anh D đã có lời khai đầy đủ; chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng mà công an thu giữ là điện thoại của anh dùng để liên lạc với N, chị L và T đến khách sạn Happy chơi, đề nghị trả lại chiếc điện thoại này cho anh.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 08/7/2022. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đào Văn N từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2022.

Áp dụng điểm g khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Văn T từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/2/2022.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo do các bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định cùng 01 chiếc thẻ nhựa hình chữ N màu trắng, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng.

Tịch thu xung công số tiền 10.000đ

Trả lại cho bị cáo N 01 loa nhãn hiệu JBL màu đen, 01 đèn màu trắng, 01 đèn màu đen, 01 đầu thu camera màu đen nhãn hiệu DAHUA; 01 điện thoại Nokia 1010 màu đen có lắp sim số 0877.178.187

Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh đen, lắp sim số 0386.832.826; trả lại cho anh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu trắng, lắp sim số 0978.379.986.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Từ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và ngĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu hồi được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 50 phút ngày 16/02/2022 tại phòng 306 khách sạn Happy Homestay thuộc khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh do Đào Văn N là chủ và trực tiếp quản lý, Lê Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 1,8665 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng nên có đủ căn cứ xác định Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bản thân N là chủ của khách sạn đã cho D thuê phòng để nghỉ, khi lên phòng 306, N thấy T và Nguyễn Sỹ D sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng nhưng vẫn để mặc cho T và D sử dụng ma túy trong phòng.

Hành vi của N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự

Do vậy, bản cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 08/7/2022 của VKSND thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo N, T với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma tuý cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm hình sự khác. Do vậy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. bị cáo N có người thân là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc thẻ nhựa hình chữ N màu trắng, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

01 ống hút hình tròn được quấn bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cần tịch thu xung quỹ nhà nước.

Đối với 01 loa nhãn hiệu JBL màu đen, 01 đèn màu trắng, 01 đèn màu đen, 01 đầu thu camera màu đen nhãn hiệu DAHUA; 01 điện thoại Nokia 1010 màu đen có lắp sim là tài sản của N không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo N là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh đen, lắp sim số 0386.832.826 thu của T không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo T là phù hợp pháp luật

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu trắng, lắp sim số 0978.379.986 là tài sản hợp pháp của D, cần trả lại cho anh D là phù hợp pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T và D ngày 16/02/2022 tại phòng 306 khách sạn Happy Homestay, Công an thành phố Từ Sơn đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp. Liên quan trong vụ án này có người thanh niên đã bán ma túy cho T ngày 16/02/2022 tại công viên thuộc khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình điều tra, T khai không biết người này là ai, về đặc điểm của người này đến nay T không nhớ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Liên quan trong vụ án có các chị Lê Thị Liên và Nguyễn N Anh là bạn của T và D. Khi T và D gọi điện thoại rủ các chị đến khách sạn không nói cho biết việc T tàng trữ ma túy. Khi T bỏ ma túy ra sử dụng trong khách sạn, các chị cũng không biết là T và D đang sử dụng ma túy, chỉ đến khi công an đến bắt quả tang, các chị mới biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đào Văn N phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đào Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/3/2022.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lê Văn T 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/02/2022.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; điều 329; khoản 2 điều 136; điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.

Tạm giam bị cáo Đào Văn N, Lê Văn T mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh (Mặt trước có ghi chữ: “Mẫu vật còn lại sau giám định, kèm theo KLGĐ số 208/KLGĐ-PC09 ngày 19/02/2022 của PC09”); 01 chiếc thẻ nhựa hình chữ N màu trắng, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng.

Tịch thu xung công số tiền 10.000đ theo giấy nộp tiền vào tài khoản tại kho bạc nhà nước Từ Sơn ngày 11/7/2022 với số tiền là 10.000 đồng

Trả lại cho bị cáo N 01 loa nhãn hiệu JBL màu đen, 01 đèn màu trắng, 01 đèn màu đen, 01 đầu thu camera màu đen nhãn hiệu DAHUA; 01 điện thoại Nokia 1010 màu đen, lắp sim số 0877.178.187.

Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh đen, lắp sim số 0386.832.826; trả lại cho anh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu trắng, lắp sim số 0978.379.986.

Về án phí: Các bị cáo N, T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ