vanban.org

Bản án 168/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Nguyễn Thị T và Võ Thanh P.

Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Thị Minh Th (Nữ), sinh ngày 08 tháng 02 năm 2007 cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Minh Th đủ 18 tuổi hoặc khi anh P, chị T có yêu cầu khác. Võ Thanh P chưa phải cấp dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Võ Thanh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Nguyễn Thị T và Võ Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:168/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 12 - 2022
V/v “Không công nhận quan hệ
vợ chồng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Dương;

2. Ông Nguyễn Thế Tự.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 594/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2022/QĐXXST-HN, ngày 11 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Võ Thanh P, sinh năm 1968.

Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Thị T (Sau đây gọi chị T) trình bày:

Giữa chị và bị đơn Võ Thanh P (sau đây gọi anh P) qua tìm hiểu nhau, tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng chị không quan tâm đến gia đình, vợ con mà có tình cảm với người phụ nữ khác từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh P.

-Về con chung: Có ba người con chung nhưng đã có hai người con đã đủ tuổi trưởng thành, người còn lại tên Võ Thị Minh Th (Nữ), sinh ngày 08 tháng 02 năm 2007, từ khi ly thân đến nay con chung do chị nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu ông Pcấp dưỡng.

-Về nợ và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn Võ Thanh P vắng mặt nên không có lời trình bày:

Tại bản tự khai ngày 11 tháng 11 năm 2022 cháu Võ Thị Minh Thư trình bày (Có sự chứng kiến của chị Thơ): Cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; giao con chung cho nguyên đơn nuôi, bị đơn chưa cấp dưỡng; về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Võ Thanh P được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Xét về quan hệ hôn nhân: Võ Thanh P và Nguyễn Thị T tự nguyện tiến tới đời sống chung như vợ chồng vào năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hôn nhân không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T: Trong thời gian chung sống giữa chị và anh P phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị Thơ thì anh Pkhông quan tâm đến gia đình là đã vi phạm nghĩa vụ vợ, chồng. Đồng thời vợ chồng cũng có bất đồng quan điểm sống nhưng không có biện pháp để hòa giải đoàn tụ mà đã chọn cách sống ly thân, xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ để tiến tới đăng ký kết hôn theo quy định nhưng anh P vắng mặt, chứng tỏ rằng anh P cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong quá trình giải quyết, chị T xác định không muốn kéo dài cuộc sống chung. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, do hôn nhân giữa anh, chị không đăng ký kết hôn nên khi có yêu cầu ly hôn; Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình: Không công nhận anh, chị là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Có hai người con đã đủ tuổi trưởng thành, một người con chung chưa đủ tuổi trưởng thành. Anh P và chị T không có tranh chấp về quyền nuôi con. Chị T yêu cầu nuôi con, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng cháu Minh Th, nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của con chung, cần tiếp tục giao cháu cho cho chị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị T, anh P có yêu cầu khác. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Pmà không ai có quyền cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Tchưa yêu cầu anh Pcấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 14, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Nguyễn Thị T và Võ Thanh P.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Thị Minh Th (Nữ), sinh ngày 08 tháng 02 năm 2007 cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Minh Th đủ 18 tuổi hoặc khi anh P, chị T có yêu cầu khác. Võ Thanh P chưa phải cấp dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Võ Thanh Pmà không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008491, ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ