- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Mai Ngọc Thúy - Lâm Hồng Hân, Phan Phương Nhanh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Ngọc Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN ĐẦM D, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2022/DS-ST Ngày 14 – 9 – 2022 V/v tranh chấp hụi |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN ĐẦM D, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai.
Các Hội thẩm nH dân:
Ông Trần Hùng
Bà Ngô Hồng Dưỡng
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nH dân huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nH dân huyện Đầm D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Ngọc Th, sinh năm 1982; cư trú tại: Ấp Nhà C, xã Quách Phẩm B, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Lâm Hồng H; cư trú tại: Ấp Nhà C, xã Quách Phẩm B, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Ông Phan Phương Nh (Phan Văn Nh); cư trú tại: Ấp Nhà C, xã Quách Phẩm B, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Mai Th, sinh năm 1976; cư trú tại: Ấp Cây K, xã Quách Phẩm B, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2022 và lời trình bày của chị Mai Ngọc Th trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Chị Mai Ngọc Th có tham gia hụi do ông Phan Văn Nh và bà Lâm Hồng H làm chủ. Hụi mở ngày 20/9/2020 âm lịch, loại hụi 5.000.000 đồng, gồm 23 chưng, góp được 14 kỳ thì ông Nh và bà H đình hụi. Quá trình tham gia hụi do chị Nguyễn Mai Th đứng ra giao dịch và đóng hụi thay chị Th, theo danh sách hụi viên có thể hiện tên chị tham gia ở vị trí thứ 16 là “Th (em Th)”. Sau khi đình hụi bà Lâm Hồng H có đối chiếu số tiền hụi còn nợ vào ngày 30/5/2022 âm lịch là 67.500.000 đồng. Nay chị Thuý yêu cầu ông Nh và bà H trả số tiền hụi 14 kỳ thực góp là 41.260.000 đồng và khoản tiền lãi suất theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Mai Th trình bày: Chị Th có nhờ chị tham gia dây hụi nêu trên do ông Nh và bà H làm chủ. Theo danh sách hụi thể hiện tên “Th (em Th)”. Quá trình tham gia hụi chị đứng ra giao dịch hụi (đi khui và có đóng hụi dùm chị Th). Khi đình hụi, ngày 30/5/2022 bà H có đối chiếu còn nợ chị Th số tiền 67.500.000 đồng, đến nay bà H và ông Nh vẫn không thanh toán cho chị Th.
* Đối với bị đơn ông Phan Phương Nh và bà Lâm Hồng H: Mặc dù đã được tống đạt hợp lệ về Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị Th nhưng bà H không có ý kiến gì, ông Nh cho rằng không biết gì về giao dịch hụi trên và Cng không tham gia hòa giải, xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Mai Ngọc Th và chị Nguyễn Mai Th có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Phan Phương Nh và bà Lâm Hồng H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Th phù hợp với lời trình bày của chị Th và danh sách hụi cũng như giấy đối chiếu tiền hụi còn nợ sau khi đình hụi của bà Lâm Hồng H. Do đó, có cơ sở xác định được chị Th có tham gia dây hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 20/9/2020al, gồm 23 chưng do bà H làm chủ. Quá trình tham gia hụi chị Th là hụi viên đã thực hiện đúng nghĩa vụ góp hụi. Tuy nhiên, bà H đã đình hụi và còn nợ lại chị Th 14 kỳ hụi đã góp, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Th thấy rằng: Theo đơn khởi kiện chị Th yêu cầu ông Nh và bà H trả 70.000.000 đồng (14 kỳ x 5.000.000 đồng = 70.000.000 đồng). Quá trình giải quyết vụ án chị Th thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nh và bà H trả số tiền hụi thực góp của 14 kỳ bằng 41.260.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị Th không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp nên được chấp nhận.
Đối với yêu cầu trả số tiền hụi thực góp và lãi suất theo quy định của pháp luật thấy rằng: Theo khoản 1 Điều 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường quy định lãi suất trong hụi có lãi như sau: “Lãi suất trong họ có lãi do các thành viên của dây họ thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ. Trường hợp mức lãi suất giới hạn nói trên được điều chỉnh bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự thì áp dụng mức lãi suất giới hạn được điều chỉnh đó.”
Đối với số tiền hụi góp vào, chị Th có theo dõi số tiền bỏ hụi ở các kì khui và số tiền góp; bà H không có ý kiến về vấn đề này nên cần chấp nhận số tiền bỏ hụi ở các kỳ khui và đã góp vào như chị Th cung cấp. Đối chiếu điều luật viện dẫn nêu trên, phần lãi hụi cần điều chỉnh lại theo quy định pháp luật được tính như sau:
Lần thứ nhất góp vào 4.000.000 đồng ngày 20/9/2020 âm lịch (nhằm ngày 05/11/2020 dương lịch đến ngày xét xử 19/4/2022 tính tròn tháng là 22 tháng): 4.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 22 tháng = 1.460.800 đồng. Tương tự cho các lần góp tiếp theo, lần thứ hai góp vào 3.180.000 đồng x 1,66%/tháng x 21 tháng = 1.085.548 đồng; lần thứ ba góp vào 2.770.000 đồng x 1,66%/tháng x 20 tháng = 919.640 đồng; lần thứ tư góp vào 2.900.000 đồng x 1,66%/tháng x 19 tháng = 914.660 đồng; lần thứ năm góp vào 2.840.000 đồng x 1,66%/tháng x 18 tháng = 848.592 đồng; lần thứ sáu góp vào 3.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 17 tháng = 846.600 đồng; lần thứ bảy góp vào 2.730.000 đồng x 1,66%/tháng x 16 tháng = 725.088 đồng; lần thứ tám góp vào 2.930.000 đồng x 1,66%/tháng x 15 tháng = 729.570 đồng; lần thứ chín góp vào 2.950.000 đồng x 1,66%/tháng x 14 tháng = 685.580 đồng; lần thứ mười góp vào 3.240.000 đồng x 1,66%/tháng x 13 tháng = 699.192 đồng; lần thứ mười một góp vào 2.700.000 đồng x 1,66%/tháng x 12 tháng = 537.840 đồng; lần thứ mười hai góp vào 2.700.000 đồng x 1,66%/tháng x 11 tháng = 493.020 đồng; lần thứ mười ba góp vào 2.570.000 đồng x 1,66%/tháng x 10 tháng = 426.620 đồng; lần thứ mười bốn góp vào 2.750.000 đồng x 1,66%/tháng x 09 tháng = 410.850 đồng. Tổng cộng số tiền lãi hụi sau khi đã điều chỉnh là 10.783.600 đồng.
Về nghĩa vụ trả nợ: Giao dịch hụi này phát sinh trong thời gian ông Nh và bà H tồn tại quan hệ hôn nH, nên căn cứ vào Điều 37 Luật hôn nH và gia đình buộc ông Nh và bà H cùng có trách nhiệm trả cho chị Th số tiền hụi 52.043.600 đồng (vốn góp là 41.260.000 đồng và lãi là 10.783.600 đồng) là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của chị Th được chấp nhận nên chị Th không phải chịu án phí; ông Nh và bà H phải chịu án phí số tiền là 2.602.000 đồng (52.043.600 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 37 của Luật Hôn nH và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Ngọc Th.
Buộc bà Lâm Hồng H và ông Phan Phương Nh (Phan Văn Nh) trả cho chị Mai Ngọc Th tổng số tiền 52.043.600 đồng (năm mươi hai triệu không trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án của chị Th cho đến khi Thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng ông Nh và bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải Thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nh và bà H phải chịu 2.602.000 đồng (hai triệu sáu trăm lẽ hai nghìn đồng) (chưa nộp).
- Chị Th không phải chịu. Hoàn trả lại cho chị Th số tiền 875.000 đồng đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012733 ngày 11/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm D.
3. Trường hợp bản án, quyết định được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Th hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án nH dân tỉnh Cà Mau; - Viển kiểm sát nH dân huyện Đầm D; - Chi cục Th hành án dân sự huyện Đầm D; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Ngọc Mai |