vanban.org

Bản án 168/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Phạm T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Phạm T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Huỳnh Phạm T cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện C giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Phạm T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2021/HS-ST
Ngày: 03-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Thái Văn Sơn;

- Bà Võ Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Phạm T, sinh năm: 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 1, xã Ph, huyện C, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 24/04/2021 đến ngày 22/6/2021 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Ngọc Phát Ng, sinh năm: 1997 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã B1, huyện Th, tỉnh Long An. Địa chỉ liên lạc: Tiểu đoàn cảnh sát cơ động số 2, số 303 Bến Th, ấp 1, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Phạm Quốc Ph, sinh năm: 1996 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Gi, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 24/04/2021, Huỳnh Phạm T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59Y3-483.93 lưu thông trên đường Tỉnh lộ 2, hướng ngã tư Bàu Đá đi Đồng Dù, khi đi qua khu vực đồng ruộng thuộc ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì có lực lượng cảnh sát cơ động thuộc Tiểu đoàn cảnh sát cơ động Bộ Công an gồm các đồng chí Hồ Thanh L, Huỳnh Tuấn K, Vũ Văn Ph, Trần Huy Ch, Trần Phạm Qu, Nguyễn Đức H, Lê Ngọc Phát Ng và Phan Phạm D đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trên tuyến đường Tỉnh lộ 2. Đồng chí Hồ Thanh L đứng trên đường nhìn thấy T không đội mũ bảo hiểm nên đã dùng đèn pin rọi vào người T và dùng gậy phát quang ra hiệu dừng xe, T không dừng mà tăng ga bỏ chạy. Đồng chí L dùng máy bộ đàm thông báo cho các đồng chí trong tổ đi xe mô tô và ô tô đặc chủng phía trước cách vị trí của đồng chí L khoảng 50 mét để yêu cầu các đồng chí trong tổ ra hiệu lệnh dừng xe đối với T. Lúc này, có các đồng chí K, Ng và D dùng đen pin, còi và gậy phản quang ra hiệu cho T dừng xe, T không chấp hành mà điều khiển xe lách sang phần đường bên trái để tẩu thoát thì đụng vào người đồng chí Ng, T ngã xuống rồi bỏ xe chạy bộ thì bị lực lượng cảnh sát cơ động bắt giữ giao công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 02 tháng 7 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Huỳnh Phạm T tội “Chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Phạm T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/4/2021, bị cáo điều khiển xe máy hiệu Honda Vario biển số 59Y3-483.93 lưu thông trên đường Tỉnh lộ 2, hướng ngã tư Bàu Đá đi Đồng Dù, khi đi qua khu vực đồng ruộng thuộc ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, do không đội mũ bảo hiểm nên bị lực lượng công an dùng đèn pin ra hiệu dừng lại kiểm tra, bị cáo sợ nên điều khiển xe lách qua trái để chạy, khi bị cáo chạy được một đoạn thì bị cáo thấy có 01 anh cảnh sát cơ động ra đường dùng đèn pin ra hiệu dừng xe, bị cáo sợ bị bắt nên lách qua trái ngược chiều để chạy thì đụng vào chân của anh cảnh sát cơ động làm xe té ngã, bị cáo bỏ chạy bộ được khoảng 30 mét thì bị các anh công an bắt giữ, giao cho công an xã T, huyện C xử lý. Bị cáo rất ân hận hành vi mình đã gây ra, bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị cho anh cảnh sát cơ động tên Lê Ngọc Phát Ng và được anh Ng xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Ngọc Phát Ng xin vắng mặt, lời khai của ông Ng tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại bản tự khai nộp cho Tòa án nhân dân huyện Củ Chi thể hiện: Trong khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tuyến Tỉnh lộ 2, ông và các đồng chí trong tổ phát hiện đối tượng T vi phạm và tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra, đối tượng đã không chấp hành, vượt chốt chặn 1 và vượt chốt chặn 2, hậu quả đối tượng đã tông trực diện vào ông làm ông gãy chân phải, trong quá trình ông điều trị tại bệnh viện và đơn vị, mẹ của đối tượng là bà Phạm Thị B có đến thăm hỏi và đền bù chi phí điều trị là 65.000.000đ, gia đình đã đưa trước 40.000.000đ, đến ngày 16/10/2021, sau khi Tòa án nhân dân huyện Củ Chi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, gia đình bị cáo T đã giao đủ cho ông số tiền còn lại là 25.000.000đ nên ông đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Ông từ chối giám định thương tật và không yêu cầu xử lý hình sự hành vi gây ra thương tích của bị cáo T đối với ông.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Quốc Ph xin vắng mặt, lời khai của ông Ph tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại bản tự khai nộp cho Tòa án nhân dân huyện Củ Chi thể hiện: Chiếc xe máy hiệu Honda Vario biển số 59Y3-483.93 mà bị cáo T sử dụng vào đêm ngày 24/4/2021 là tài sản của ông do ông đứng tên chủ sở hữu. Ngày 23/4/2021 ông để xe tại nhà ông, bị cáo T tự ý lấy xe đi, ông không có cho bị cáo T mượn xe. Ông đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 330, Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Phạm T mức án từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thủ thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử lý như sau:

+ 01 đôi giày Boot màu đen, đã qua sử dụng của Công ty Tổng cục hậu cần kỹ thuật Bộ Công an-19/5 (số 41); 01 áo công cụ hỗ trợ màu đen của lực lượng cảnh sát cơ động, phía trước có chữ “POLICE” phản quang, phía sau có chữ “CSCĐ” phản quang, túi trước bên phải bị rách có dính bùn đất; 01 áo giáp chống đâm màu xanh rêu, bên trong cố số ký hiệu 002084 có dính bùn đất; 01 áo cảnh phục Cảnh sát cơ động dài tay màu đen, 02 ve cành hàm phù hiệu màu đỏ trên cổ áo, tay bên trái có phù hiệu “Lực lượng Cảnh sát cơ động” có dính bùn đất; 01 gậy cao su màu đen, dài 70cm, đường kính 03 cm, tay cầm có dây dù màu xanh có dính bùn đất (các vật chứng trên đã trả cho đồng chí Hồ Thanh L- cán bộ Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động, BL 57) nên đề nghị không xét;

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59Y3-483.93 (đã trả cho chủ sở hữu, BL 116) nên đề nghị không xét;

+ 01 đĩa CD có chứa đoạn clip ghi hình diễn biến tại hiện trường (kèm theo hồ sơ vụ án) đề nghị tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án.

- Về nghĩa vụ dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho ông Lê Ngọc Phát Ng nên đề nghị không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Huỳnh Phạm T có hành vi điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59Y3-483.93 lưu thông hướng ngã tư Bàu Đá đi Đồng Dù không chấp hành hiệu lệnh dừng xe lực lượng cảnh sát cơ động thuộc tiểu đoàn cảnh sát cơ động Bộ Công an, dẫn đến xảy ra va chạm với đồng chí Lê Ngọc Phát Ng đang làm nhiệm vụ. Bằng hành vi nêu trên bị cáo Huỳnh Phạm T đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Huỳnh Phạm T về tội “Chống người thi hành công vụ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được hành vi của mình là sai trái nhưng bị cáo vẫn thực hiện, do đó cần có xử lý các bị cáo bằng hình phạt là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khắc phục hậu quả và được ông Ng làm xin giảm nhẹ hình phạt, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, trong thời gian được tại ngoại bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, do đó chỉ cần áp dụng hình tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răng đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về vật chứng vụ án:

- 01 đôi giày Boot màu đen, đã qua sử dụng của Công ty Tổng cục hậu cần kỹ thuật Bộ Công an-19/5; 01 áo công cụ hỗ trợ màu đen của lực lượng cảnh sát cơ động, phía trước có chữ “POLICE” phản quang, phía sau có chữ “CSCĐ” phản quang, túi trước bên phải bị rách có dính bùn đất; 01 áo giáp chống đâm màu xanh rêu, bên trong có số ký hiệu 002084 có dính bùn đất; 01 áo cảnh phục cảnh sát cơ động dài tay màu đen, 02 ve cành hàm phù hiệu màu đỏ trên cổ áo, tay bên trái có phù hiệu “Lực lượng Cảnh sát cơ động” có dính bùn đất; 01 gậy cao su màu đen, dài 70cm, đường kính 03 cm, tay cầm có dây dù màu xanh có dính bùn đất. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã giao trả lại cho Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động nên Hội đồng xét xử không xét;

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59Y3-483.93. Đây là tài sản của ông Ph, ông Ph không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Ph, ông Ph không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét;

- 01 đĩa CD có chứa đoạn clip ghi hình diễn biến tại hiện trường, Hội đồng xét xử xét cần lưu vào hồ sơ vụ án nhằm phục vụ cho việc tra cứu.

Về nghĩa vụ dân sự:

Bị cáo đã bồi thường cho ông Lê Ngọc Phát Ng số tiền 65.000.000đ. Tại phiên tòa hôm nay, ông Ng có đơn xin vắng mặt và không yêu cầu thêm gì khác nên Hội dồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc bị cáo Tân phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Phạm T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 330, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ vào Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Phạm T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Huỳnh Phạm T cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện C giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án 01 đĩa CD có chứa đoạn clip ghi hình diễn biến tại hiện trường.

3. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Đã giải thích cho bị cáo chế định án treo).

Cỡ chữ