vanban.org

Bản án 168/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận bà Lê Thị H và ông Lê Bá Ph là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 27/12/2015, đang sống với bà H, bà Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông Lê Bá Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận bà Lê Thị H và ông Lê Bá Ph là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:168/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 05 - 2021
“V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm

2. Ông Ngô Văn Mừng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thúy Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.

Ngày 13 tháng 05 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 04 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 200/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 04 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1978; Địa chỉ: tổ 87 ấp CT, xã CĐ, huyện CTh, tỉnh An Giang (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Bá Ph, sinh năm 1984; Địa chỉ: số 89 tổ 02, ấp MT, xã NM, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà Lê Thị H và ông Lê Bá Ph tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2012, không đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, bất đồng về kinh tế gia đình, ông Ph tham gia tệ nạn xã hội, nên giữa bà H và ông Ph không còn sống chung từ năm tháng 12/2020 cho đến nay. Nay bà Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Lê Bá Ph.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 27/12/2015 hiện đang sống với bà H, khi ly hôn bà H được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn là ông Lê Bá Ph đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Lê Bá Ph đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Tại phiên tòa bà Lê Thị H vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Bá Ph, và tranh chấp về con chung, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lê Bá Ph với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp MT, xã NM, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện C, tỉnh An Giang.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Lê Bá Ph tự nguyện sống chung như vợ chồng vào năm 2012, không đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm nên cuộc sống chung không hạnh phúc và vợ chồng không còn sống chung từ tháng 12/2020 cho đến nay, do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân không hợp pháp. Do đó căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà H và ông Ph là vợ chồng là phù hợp.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 27/12/2015 hiện đang sống với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao con chung cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể

quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Lê Thị H được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận bà Lê Thị H và ông Lê Bá Ph là vợ chồng.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 27/12/2015, đang sống với bà H, bà Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông Lê Bá Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006099 ngày 24/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ