vanban.org

Bản án 168/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần A. Buộc ông Nguyễn Văn T chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền vốn vay còn nợ là 55.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thoả thuậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng A kiện đòi tiền vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần A. Buộc ông Nguyễn Văn T chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền vốn vay còn nợ là 55.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2021/DS - ST
Ngày: 29-11-2021
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kiêm Hươl

2. Bà Nguyễn Thị Tú Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2021/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2021về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 327/2021/QĐXX-ST ngày 22 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Người đại diện theo pháp luật:

Ông Đỗ Minh T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Địa chỉ trụ sở chính: số xx, đường N, phường x, Quận x, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Vũ Thị Anh Đ– Chức vụ: Giám đốc Phòng quản lý nợ.

Địa chỉ liên lạc: Lầu x, Tòa nhà A, số xxx, đường C, phường x, Quận x, Thành phố H.

Người đại diện tham gia tố tụng: Anh Nguyễn Anh H.

Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng - Ngân hàng thương mại cổ phần A – Chi nhánh S.

Địa chỉ số xx, đường T, phường x, thành phố S, tỉnh S.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967

Địa chỉ: ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

(Đại diện nguyên đơn có mặt; Ông Tám vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2021, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng thƣơng mại cổ phần A trình bày:

Vào ngày 10/8/2016, Ngân hàng thương mại cổ phần A có ký với ông Nguyễn Văn T hợp đồng cấp tín dụng số SOC.CN.776.090816.

Mục đích vay: tiêu dùng khác – sữa chữa nhà, mua sắm vật dụng sinh hoạt gia đình.

Thời hạn vay: 84 tháng.

Lãi suất là 12% năm, sau đó điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.

Để đảm bảo khoản tiền vay trên, Ngân hàng thương mại cổ phần A cùng ông Nguyễn Văn T ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số SOC.BĐCN.486.090816 ngày 10/8/2016 thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất sau:

+ Thửa số 66, diện tích 5.404,0m2, tờ bản đồ số 2, được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn T vào ngày 24/12/1999. Thửa đất tọa lạc tại ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Sau khi vay tiền, ông Nguyễn Văn T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận và cũng không thanh toán nợ gốc khi đến hạn, gây thiệt hại đến quyền lợi của ngân hàng.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán số tiền vốn vay còn nợ tính đến thời điểm hiện nay là 55.710.000 đồng, tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong hết tiền nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Văn T không thanh toán số tiền trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần A, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số SOC.BĐCN.486.090816 ngày 10/8/2016 để thu hồi nợ.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 68, 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A là có căn cứ để chấp nhận, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Về án phí và chi phí tố tụng: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn Tám đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về chứng cứ trong vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là hợp đồng cấp tín dụng số SOC.CN.776.090816 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số SOC.BĐCN.486.090816, cùng ngày 10/8/2016, thể hiện việc nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 120.000.000 đồng. Xét thấy, các chứng cứ này đã được công chứng, chứng thực hợp pháp, đăng ký thế chấp đúng theo quy định của pháp luật, cho nên đây là những chứng cứ thuộc trường hợp “những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Như vậy giữa nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện giao dịch về tài sản thông qua hợp đồng cấp tín dụng dưới hình thức vay tiền có kỳ hạn và có lãi theo quy định của pháp luật là có thật.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Xét thấy, bị đơn đã có vay tiền của nguyên đơn, đồng thời bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng cấp tín dụng số SOC.CN.776.090816 ngày 10/8/2016, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn phải thanh toán số tiền vốn vay còn nợ tính đến thời điểm xét xử là 55.710.000 đồng và 12.412.199 đồng tiền lãi phát sinh tính đến ngày 29/11/2021. Cộng chung là 68.122.199 đồng là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vấn đề xử lý tài sản thế chấp: Khi thực hiện giao dịch vay tiền theo hợp đồng cấp tín dụng số SOC.CN.776.090816 ngày 10/8/2016, nguyên đơn, bị đơn đã xác lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số SOC.BĐCN.486.090816 ngày 10/8/2016 để thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất sau:

+ Thửa số 66, diện tích 5.404,0m2, tờ bản đồ số 2, được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp quyền sử dụng đất cho cho hộ Nguyễn Văn T vào ngày 24/12/1999. Thửa đất tọa lạc tại ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Xét thấy, như đã nhận định trên, việc giao kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói trên là quyền tự định đoạt của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật, việc thế chấp tài sản là để đảm bảo nghĩa vụ trả tiền vốn vay của các bị đơn. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn được yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của các bị đơn là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách tiến hành xem xét, thẩm định tại chổ đối với phần tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất sau:

Thửa số 66, diện tích 5.404,0m2, tờ bản đồ số 2, được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp quyền sử dụng đất cho cho hộ Nguyễn Văn T vào ngày 24/12/1999. Thửa đất tọa lạc tại ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Xét thấy, việc xem xét thẩm định tại chổ là căn cứ để giải quyết vụ án, phù hợp với quy định tại Điều 101 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chổ với số tiền là 4.000.000 đồng, nhiều hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chổ thực tế là 3.900.000 đồng và đã nhận lại số tiền còn thừa là 100.000 đồng. Như vậy, chi phí xem xét, thẩm định tại chổ với số tiền 3.900.000 đồng mà nguyên đơn đã nộp trước là cần thiết và hợp lý.

Xét thấy, lỗi dẫn đến việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là hoàn toàn thuộc về phía bị đơn. Bỡi lẽ, bị đơn đã không thực hiện đúng những thỏa thuận về thanh toán tiền lãi và trả tiền vốn vay theo nội dung hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Cho nên, bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chổ với số tiền là 3.900.000 đồng là phù hợp với Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án đối với việc hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chổ cho nguyên đơn.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c, khoản 1, khoản 2, Điều 92, Điều 101, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 2, Điều 227, khoản 1, khoản 3, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 280, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 12, Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần A. Buộc ông Nguyễn Văn T chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền vốn vay còn nợ là 55.710.000 đồng và 12.412.199 đồng tiền lãi phát sinh tính đến ngày 29/11/2021. Cộng chung là 68.122.199 đồng (sáu mƣơi tám triệu một trăm hai mƣơi hai ngàn một trăm chín mƣơi chín đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần A thì lãi suất mà ông Nguyễn Văn T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Mức lãi suất hai bên thỏa thuận là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.

Ngay sau khi ông Nguyễn Văn T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần A mà không phải qua xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng thương mại cổ phần A có trách nhiệm giải chấp tài sản đã thế chấp và trả lại hồ sơ thế chấp tài sản cho ông Nguyễn Văn T theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số SOC.BĐCN.486.090816 ngày 10/8/2016 do Văn phòng công chứng Ba Xuyên chứng thực.

2. Về quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án:

Trường hợp ông Nguyễn Văn T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần A được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý tài sản thế chấp theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 đối với tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số SOC.BĐCN.486.090816 ngày 10/8/2016 do Văn phòng công chứng Ba Xuyên chứng thực, được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A với ông Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án.

3. Về chi phí tố tụng:

Ngân hàng thương mại cổ phần A được nhận lại số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chổ là 3.900.000 đồng. Buộc ông Nguyễn Văn T chịu trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm ngàn đồng).

4. Về án phí:

Ngân hàng thương mại cổ phần A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng thương mại cổ phần A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.555.000 đồng (một triệu năm trăm năm mƣơi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009925 ngày 03/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách.

Ông Nguyễn Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.406.000 đồng (ba triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn đồng – số tròn).

Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án đối với việc hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chổ cho Ngân hàng thương mại cổ phần A.

5. Án xử công khai, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần A có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.

Ông Nguyễn Văn T không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ